Phân tích hàm ý hội thoại qua phương châm trong truyện cười dân gian Việt Nam

Khám phá hài hước ẩn sau các truyện cười dân gian Việt Nam qua lăng kính "123doc". Phân tích phương châm hội thoại và ý nghĩa thâm thúy.

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận

2012

57
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Lịch sử vấn đề

3. Đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Phạm vi nghiên cứu

4. Mục đích nghiên cứu

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Những đóng góp của khóa luận

6.1. Về mặt lí luận

6.2. Về mặt thực tiễn

7. Cấu trúc của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Lí thuyết hội thoại

1.1.1. Cấu trúc hội thoại

1.1.2. Các đơn vị lưỡng thoại

1.1.3. Tham thoại

1.1.4. Hành động ngôn trung

1.2. Các quy tắc hội thoại

1.2.1. Quy tắc luân phiên lượt lời

1.2.2. Các phương châm hội thoại

1.2.3. Nguyên tắc cộng tác

1.2.4. Phép lịch sự (Politeness, politesse)

1.2.5. Lịch sự quy ước (lịch sự chuẩn mực)

1.2.6. Lịch sự chiến lược

1.2.7. Thương lượng hội thoại

1.3. Hành động nói

1.3.1. Đích ngôn trung

1.3.2. Điều kiện may mắn

Tóm tắt

I. Tổng Quan Hàm Ý Truyện Cười Dân Gian Việt Nam 123doc

Truyện cười dân gian Việt Nam là một kho tàng vô giá, mang đậm bản sắc văn hóa và trí tuệ của người Việt. Bên cạnh giá trị giải trí, truyện cười còn chứa đựng những hàm ý sâu sắc, phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội. Việc phân tích hàm ý trong truyện cười, đặc biệt là thông qua lăng kính phương châm hội thoại, là một cách tiếp cận thú vị và hiệu quả để hiểu rõ hơn về nghệ thuật trào phúng và văn hóa dân gian. Nhiều tài liệu nghiên cứu về chủ đề này có thể tìm thấy trên 123doc, cung cấp nguồn tư liệu phong phú cho những ai quan tâm. Khóa luận này tập trung khai thác các truyện cười có vi phạm nguyên tắc cộng tác dưới góc độ ngữ dụng. Từ đó, xác định được hàm ý hội thoại gắn với các phương châm hội thoại qua mỗi truyện đó.

1.1. Giá Trị Văn Hóa và Giáo Dục Của Truyện Cười

Truyện cười không chỉ mang lại tiếng cười giải trí mà còn có giá trị giáo dục sâu sắc. Thông qua những câu chuyện hài hước, người đọc có thể nhận ra những bài học về đạo đức, lẽ sống, và cách ứng xử trong xã hội. Việc sử dụng lối nói dân gian, tục ngữ, ca dao trong truyện cười cũng góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân gian truyền thống. Tiếng cười góp phần không nhỏ làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn. Chính nhu cầu đó mà các tác giả dân gian đã sáng tác nên truyện cười. Nó vừa có giá trị giải trí, vừa có ý nghĩa giáo dục nhân cách, đạo đức con người.

1.2. Hàm Ý và Vai Trò Của Phương Châm Hội Thoại

Hàm ý là những ý nghĩa ẩn sau lời nói, đòi hỏi người nghe phải có khả năng suy luận và giải mã để hiểu được thông điệp thực sự. Phương châm hội thoại, được Grice đề xuất, là những nguyên tắc giao tiếp mà người nói và người nghe tuân thủ để đảm bảo cuộc trò chuyện diễn ra suôn sẻ và hiệu quả. Khi một trong các phương châm hội thoại bị vi phạm, người nghe sẽ tự động suy luận để tìm ra hàm ý mà người nói muốn truyền tải. “Hãy làm cho phần đóng góp của anh (chị) (vào cuộc thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc thoại) mà nó xuất hiện với mục đích hay phương hướng của cuộc thoại mà anh (chị) đã chấp nhận tham gia vào”.

II. Vấn Đề Nghiên Cứu Hàm Ý Trong Truyện Cười Dân Gian 123doc

Mặc dù truyện cười dân gian Việt Nam đã được nghiên cứu rộng rãi, nhưng việc phân tích hàm ý dưới góc độ phương châm hội thoại vẫn còn nhiều hạn chế. Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào nội dung và hình thức nghệ thuật của truyện cười, ít chú trọng đến khía cạnh ngữ dụng học. Việc khám phá hàm ý trong truyện cười không chỉ giúp làm sáng tỏ đặc tính cơ bản của hàm ý hội thoại, mà còn lí giải về thi pháp nghệ thuật trong truyện cười dân gian Việt Nam. 123doc cung cấp nhiều tài liệu liên quan đến việc nghiên cứu truyện cười, tuy nhiên, cần có sự chọn lọc và phân tích kỹ lưỡng để tìm ra những góc nhìn mới mẻ và sâu sắc. Khóa luận này của chúng tôi không có tham vọng giải quyết những vấn đề còn bỏ ngỏ mà chỉ cố gắng tìm hiểu những đặc trưng của ngôn ngữ truyện cười qua sự phân tích một số truyện cười trong truyện cười dân gian Việt Nam.

2.1. Thiếu Góc Nhìn Ngữ Dụng Học Trong Nghiên Cứu Truyện Cười

Các công trình nghiên cứu về truyện cười thường tập trung vào việc phân tích nội dung, nhân vật, và nghệ thuật kể chuyện, ít chú trọng đến hàm ý và cách thức phương châm hội thoại được vận dụng để tạo ra hiệu ứng trào phúng. Điều này dẫn đến việc bỏ qua nhiều khía cạnh quan trọng trong việc hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của truyện cười. Những công trình này, sưu tầm, tuyển chọn các truyện cười đã bắt đầu nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học. Tuy nhiên đó mới chỉ là những phát hiện và giới thiệu một vài thủ pháp ngôn ngữ, chưa đưa ra việc khảo sát các biện pháp gây cười trong từng truyện cụ thể.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Giải Mã Hàm Ý Truyện Cười

Việc giải mã hàm ý trong truyện cười đòi hỏi người đọc phải có kiến thức về văn hóa dân gian, tục ngữ, ca dao, và lối nói dân gian. Ngoài ra, cần phải có khả năng suy luận logic và đặt mình vào bối cảnh của câu chuyện để hiểu được thông điệp mà tác giả dân gian muốn truyền tải. Nếu không có đủ kiến thức và kỹ năng, người đọc có thể hiểu sai hoặc bỏ qua những hàm ý sâu sắc trong truyện cười. Để nhận biết, phân tích và làm rõ nội dung nghĩa của các hàm ý hội thoại trong truyện cười, phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu ở khóa luận này là phương pháp phân tích ngữ cảnh theo hướng của dụng học.

III. Cách Tiếp Cận Phân Tích Phương Châm Hội Thoại Trong Truyện Cười

Để giải quyết vấn đề trên, khóa luận này đề xuất phương pháp phân tích hàm ý trong truyện cười dân gian Việt Nam dựa trên phương châm hội thoại của Grice. Phương pháp này tập trung vào việc xác định những phương châm hội thoại nào bị vi phạm trong các cuộc đối thoại trong truyện cười, và từ đó suy luận ra hàm ý mà người nói muốn truyền tải. Việc áp dụng phương pháp này giúp người đọc hiểu rõ hơn về cơ chế tạo tiếng cười và ý nghĩa sâu sắc của truyện cười. Khóa luận xác định cách phân tích và tìm hiểu ý nghĩa của hàm ý trong truyện cười dân gian Việt Nam với các phương châm hội thoại.

3.1. Nhận Diện và Phân Tích Các Phương Châm Hội Thoại

Bước đầu tiên trong phương pháp này là nhận diện và phân tích các phương châm hội thoại như phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ, và phương châm cách thức. Cần xác định rõ những yêu cầu của từng phương châm và xem xét liệu các nhân vật trong truyện cười có tuân thủ những yêu cầu này hay không. Nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice được tác giả chia thành 4 phương châm: Lượng, chất, quan hệ, cách thức, ngoài nguyên tắc cộng tác, trong hội thoại còn cần tính đến phương châm lịch sự.

3.2. Suy Luận Hàm Ý Từ Sự Vi Phạm Phương Châm

Khi phát hiện một hoặc nhiều phương châm hội thoại bị vi phạm, cần suy luận để tìm ra hàm ý mà người nói muốn truyền tải. Quá trình suy luận này cần dựa trên ngữ cảnh của câu chuyện, kiến thức về văn hóa dân gian, và khả năng suy luận logic. Suy luận phải phù hợp giúp cho việc bảo tồn cộng tác và hiểu đúng ý nghĩa b, ý nghĩa b chính là hàm ý của phát ngôn a.

3.3. Liên Hệ Hàm Ý Với Nghệ Thuật Trào Phúng

Sau khi xác định được hàm ý, cần liên hệ hàm ý này với nghệ thuật trào phúng của truyện cười. Cần xem xét liệu hàm ý này có góp phần phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội, hay chỉ đơn thuần mang tính giải trí. Hàm ý hội thoại thường được sử dụng như một thủ pháp gây cười.

IV. Ứng Dụng Phân Tích Truyện Cười Cụ Thể Về Hàm Ý 123doc

Khóa luận này sẽ áp dụng phương pháp phân tích trên vào một số truyện cười dân gian Việt Nam cụ thể, được lựa chọn từ kho tàng tài liệu phong phú trên 123doc. Các truyện cười được chọn sẽ được phân tích kỹ lưỡng để làm rõ hàm ý và cách thức phương châm hội thoại được vận dụng để tạo ra hiệu ứng trào phúng. Chúng tôi sử dụng một số truyện trong "Tiếng cười dân gian Việt Nam" của Trương Chính và Phong Châu làm ngữ liệu khảo sát. Bên cạnh đó, các ví dụ đã dẫn trong các tài liệu nghiên cứu về dụng học cũng được chúng tôi sử dụng trong những trường hợp cần thiết.

4.1. Phân Tích Truyện Cười Khoe Của Hàm Ý Khoe Khoang

Truyện "Khoe của" là một ví dụ điển hình về việc sử dụng hàm ý để phê phán thói khoe khoang. Cả hai nhân vật trong truyện đều vi phạm phương châm quan hệ khi cố tình đưa những thông tin không liên quan đến câu chuyện để khoe mẽ về bản thân. Nội dung của hàm ý (câu hỏi và câu trả lời) là: Cả người hỏi và người trả lời đều thích khoe khoang. Một người đã có tính khoe khoang thì bản thân họ luôn nóng lòng muốn khoe tất cả về mình với thiên hạ, cho dù đó là điều nhỏ bé nhất.

4.2. Phân Tích Truyện Cười Phù Thủy Sợ Ma Hàm Ý Phê Phán Sự Hư Danh

Truyện "Phù thủy sợ ma" sử dụng hàm ý để phê phán sự hư danh và giả tạo. Thầy phù thủy trong truyện vi phạm phương châm về chất khi nói dối về khả năng trừ tà của mình. Hàm ý trong câu nói này có nội dung: ông là thầy “rởm”.

4.3. Phân Tích Truyện Cười Ngửi văn Hàm Ý giễu cợt

Câu chuyện giữa người mù và ông Tú là một câu chuyện không hợp với lẽ thường. Hàm ý của câu nói cuối cùng của người mù làm cho câu truyện trở nên vừa khôi hài vừa mỉa mai giễu cợt. Ông tú cũng như độc giả nhận ra hàm ý sâu sắc trong câu nói của người mù: Văn chương có mùi thum thủm thì chỉ là thứ văn vừa dở, vừa thối không giá trị mà thôi

V. Kết Luận Giá Trị Của Nghiên Cứu Hàm Ý Truyện Cười 123doc

Việc nghiên cứu hàm ý trong truyện cười dân gian Việt Nam dựa trên phương châm hội thoại không chỉ giúp hiểu rõ hơn về nghệ thuật trào phúng và văn hóa dân gian, mà còn góp phần nâng cao khả năng giao tiếp và suy luận của người đọc. Hy vọng rằng, khóa luận này sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu này, và khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục khám phá những góc nhìn mới mẻ và sâu sắc hơn về truyện cười dân gian Việt Nam, có thể tìm thấy nhiều tư liệu trên 123doc. Kết quả nghiên cứu của khóa luận góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hằng ngày, đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên yêu thích bộ môn văn học dân gian Việt Nam nói chung cũng như mảng truyện cười dân gian nói riêng.

5.1. Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Và Suy Luận

Việc phân tích hàm ý trong truyện cười giúp người đọc rèn luyện khả năng suy luận logic, giải mã thông điệp ẩn sau lời nói, và hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp hiệu quả. Nó sẽ giúp tăng sự chủ động trong giao tiếp hằng ngày.

5.2. Bảo Tồn Và Phát Huy Văn Hóa Dân Gian

Nghiên cứu truyện cười dân gian góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân gian truyền thống, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa của dân tộc và nâng cao ý thức bảo vệ và phát huy những giá trị này. Truyện cười dân gian là một thể loại truyện chứa đựng cái hài, dùng tiếng cười làm phương tiện chủ yếu để đấu tranh và giải trí. Hàm ý hội thoại thường được sử dụng như một thủ pháp gây cười.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu và dấu hiệu kết thúc. Đoạn thoại Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn (một bộ phận của cuộc thoại) do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về nghĩa hoặc về ngữ dụng tạo nên. Cặp thoại Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại, đơn vị tối thiểu nhỏ nhất (đơn vị cơ sở của hội thoại), cũng tức là cặp kế cận gồm một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp. Tuy nhiên, không nhất thiết toàn bộ lượt lời này và toàn bộ lượt lời kia mới thành cặp thoại.

Và cũng không nhất thiết cặp thoại chỉ gồm một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp. Có thể có cặp thoại một tham thoại, hai tham thoại, ba tham thoại. Tham thoại Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định. Tham thoại là đơn vị cơ sở tạo nên cặp thoại.

Có tham thoại dẫn nhập và tham thoại hồi đáp (gắn với chức năng ở lời dẫn nhập và hồi đáp). Hành động ngôn trung Hành động ngôn trung là đơn vị nhỏ nhất của hội thoại. Trong cuộc thoại các hành động ngôn trung và các yếu tố kèm ngôn ngữ đều được căn cứ vào các hành động ngôn trung đi trước. Về cấu trúc nội tại, một tham thoại có thể gồm nhiều hành động ngôn trung nhưng chỉ có một hành động chủ hướng, còn lại là các hành động phụ thuộc.

-6- Hành động chủ hướng là hành động quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành động đáp thích hợp của người đối thoại. Đề tài tập trung khai thác các hành động ngôn trung có giá trị tạo nên hàm ý trong các cuộc thoại trong truyện cười. Vấn đề này sẽ được trở lại ở các phần sau. Các quy tắc hội thoại Các nhà dụng học đều khẳng định rằng: quy tắc hội thoại là có thực, các cuộc hội thoại diễn ra theo những quy tắc nhất định.

Các quy tắc hội thoại chia làm ba nhóm: - Quy tắc luôn phiên lượt lời - Các phương châm hội thoại - Thương lượng hội thoại. Khóa luận này sẽ nghiên cứu nhiều hơn đến nhóm các phương châm hội thoại 1. Quy tắc luân phiên lượt lời Trong hội thoại, khi có hai người thì lời của người này kế tiếp lời của người kia. Mỗi lần người này hay người kia (SP1 hay SP2) nói là một lượt lời.

Quy tắc này đòi hỏi mỗi người phải ý thức được về quyền được nói của mọi người tham gia cuộc thoại, phải giảm tối đa sự trùng chập với lời nói của người khác. Khoảng im lặng giữa hai lượt lời là không quá lớn. Dấu hiệu báo hết lượt lời trong tiếng Việt thông thường là các từ: à, ư, vậy… 1. Các phương châm hội thoại a.

Nguyên tắc cộng tác Nguyên tắc này do Grice nêu ra từ năm 1967 trong bài giảng của mình tại trường đại học Haverd (Mỹ). Đến năm 1975 nó được trở thành 1 cuốn sách có tựa đề “Logic và hội thoại” (Logic and conversation). Nguyên tắc này được nêu ra một cách tổng quát như sau: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh (chị) (vào cuộc thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai -7- đoạn (của cuộc thoại) mà nó xuất hiện với mục đích hay phương hướng của cuộc thoại mà anh (chị) đã chấp nhận tham gia vào”. Nguyên tắc này được Grice tách thành 4 phương châm nhỏ như sau: 1) Phương châm về lượng.

Phương châm này được Grice diễn đạt bằng hai vế: a. “Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi của đích cuộc hội thoại”. “Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn nhu cầu mà nó được đòi hỏi”. 2) Phương châm về chất.

Phương châm này được phát biểu tổng quát như sau: “Hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng đặc biệt là: a. Đừng nói điều gì mà anh tin là không đúng. Đừng nói điều gì mà anh không đủ bằng chứng”. 3) Phương châm quan hệ (phương châm quan yếu).

Hãy làm cho phần đóng góp của anh quan yếu, tức có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra. 4) Phương châm cách thức. Dạng tổng quát của phương châm này là hãy nói cho rõ ràng đặc biệt là hãy tránh lối nói tối nghĩa. - Hãy tránh lối nói mập mờ và mơ hồ về nghĩa.

- Hãy nói ngắn gọn và có trật tự. Tuy nhiên, nguyên tắc và phương châm của Grice như chính tác giả thừa nhận có nhiều điểm hạn chế là chưa đề cập đến nội dung liên cá nhân của diễn ngôn các phương châm nhiều khi còn chồng chéo. Ví dụ: Phương châm về lượng: "Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn nhu cầu nó được đòi hỏi” có phần trùng với phương châm quan yếu, bởi lớn hơn yêu cầu là không quan yếu. Hay là, vế thứ ba của phương châm cách thức là hãy nói ngắn gọn cũng trùng với phương châm quan yếu và phương châm về lượng.

Nhìn ở một khía cạnh khác, các phương châm của Grice cũng có tác dụng giải thích được nhiều cuộc thoại khi người ta nói với nhau một cách hàm ẩn và -8- các phương châm này sẽ giải thích được nghĩa hàm ẩn của cuộc thoại. Đây là một trong những vấn đề mà khóa luận đặc biệt quan tâm. Vận dụng lí thuyết nguyên tắc hội thoại của Grice để thấy được những biện pháp gây cười trong một số truyện cười dân gian Việt Nam. Phép lịch sự (Politeness, politesse) Muốn hội thoại thành công, bên cạnh nguyên tắc cộng tác không thể bỏ qua nguyên tắc lịch sự.

Nữ Giáo sư người Pháp C.Orechioni định nghĩa: “Khái niệm lịch sự bao trùm tất cả phương diện của diễn ngôn bị chi phối bởi các quy tắc có chức năng giữ gìn tính chất hài hòa của quan hệ liên cá nhân”. Chúng ta biết rằng quan hệ liên cá nhân có 2 lĩnh vực. Thứ nhất là lĩnh vực của quan hệ dọc và quan hệ ngang gồm những yếu tố ít nhiều cố định, hình thành do tập tục ít nhiều có tính chất cố định của xã hội. Thứ hai là lĩnh vực của những quan hệ liên cá nhân hình thành ngay trong cuộc hội thoại, có thể nó mất đi khi cuộc hội thoại chấm dứt, có khi để lại những dấu vết và những dấu vết này tích lũy lại qua năm tháng giao tiếp để rồi đi vào lĩnh vực thứ nhất, ứng với 2 lĩnh vực đó là quan hệ liên cá nhân ta có phương diện lịch sự.

Lịch sự quy ước của xã hội (lịch sự quy ước, lịch sự chuẩn mực) và lịch sự trong giao tiếp (lịch sự chiến lược). Lịch sự quy ước (lịch sự chuẩn mực) Đặc tính của lịch sự quy ước là có những phương tiện ít nhiều bắt buộc khiến cho bất kì ai rơi vào một vị trí của trục quan hệ dọc hay trục quan hệ ngang nào đó cũng phải sử dụng, nếu không sẽ là bất lịch sự hoặc vô lễ, hoặc hỗn láo, hoặc lạnh lùng, vô tình, khách sáo,… Phép lịch sự quy ước lại chia thành 2 nhóm theo quan hệ dọc và quan hệ ngang. Quan hệ dọc là trục quan hệ quyền thế, được chia làm nhiều bậc khác nhau từ cao xuống thấp. Chúng ta tạm gọi phép lịch sự trên trục quan hệ dọc là lịch sự vị thế.

Phép lịch sự vị thế thường dùng các phương tiện phi lời (như quần áo) cách tổ chức không gian hội thoại (chủ tịch hội nghị ngồi phía trước…), tư thế đứng, ngồi, cách nhìn, các phương tiện kèm lời như giọng nói, cử chỉ, điệu bộ,… -9- Quan hệ ngang là quan hệ thân cận, thân sơ cũng được phân chia thành các cấp bậc khác nhau. Phép lịch sự theo trục ngang tạm gọi là lịch sự thân - sơ. Các phương tiện ngôn ngữ của phép lịch sự này như: mình - ấy, cậu - tớ, mày – tao, anh – em, con – bố, ông – bà,… Lịch sự thân - sơ cũng dùng những phương tiện phi lời như khoảng cách hội thoại, càng thân nhau thì khoảng cách càng ngắn lại, động tác (vỗ vai, cầm tay,…) tư thế của cơ thể (nghiêng người ngả người về phía thoại nhân…) như cái nhìn, nụ cười, nháy mắt… Những phương tiện kèm lời như: giọng nói, tốc độ nhanh - chậm của lời nói. Tuy nhiên, hai trục quan hệ này tác động lẫn nhau.

Quan hệ thân sơ có thể biến đổi trong quá trình hội thoại. Do đó, phép lịch sự vị thế cũng có thể thay đổi theo biến đổi của quan hệ thân – sơ. Lịch sự chiến lược Lịch sự chiến lược liên quan đến cái xảy ra trong hội thoại chứ không bị quy định bởi những nguồn gốc xã hội như trong phép lịch sự quy ước. Lịch sự chiến lược là sự liên quan tới sự sử dụng các hành động ở lời và với những đề tài được đưa vào hội thoại.

Lịch sự chiến lược như vậy có thể hiểu là sự bao trùm tất cả các phương tiện của việc sử dụng các hành vi ở lời nói và việc đề cập đến các đề tài sau có thể giữ gìn được tính chất hài hòa của quan hệ liên cá nhân trong hội thoại. Thương lượng hội thoại Trong một cuộc hội thoại, các nhân vật giao tiếp dần dần thương lượng với nhau, điều chỉnh nhau về hình thức và nội dung hội thoại. Nếu không có những thương lượng như vậy hội thoại sẽ phân tán và không tiếp diễn được. Đối tượng thương lượng là hình thức hội thoại và nội dung, cấu trúc hội thoại,… Cách thức thương lượng có thể thương lượng ngay từ đầu và cũng có thể thương lượng trong quá trình hội thoại; có thể thương lượng trực tiếp, có thể thương lượng theo một kiểu ngầm ẩn.

Hành động nói - 10 - Nói năng là hành động bằng phương tiện ngôn ngữ. Các hành động được thực hiện bằng phương thức phát ngôn được gọi chung là hành động nói: Hành động được thực hiện bằng cách tạo ra một phát ngôn có ba hành động liên quan nhau: Hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung, hành động dụng ngôn. Dụng học ngày nay chủ yếu tập trung nghiên cứu hành động ngôn trung. Đích ngôn trung Hành động ngôn trung là hành động mà người nói thực hiện ngay khi nói năng, ngay trong phát ngôn của mình.

Các hành động ngôn trung có tính quy ước mà quy tắc vận hành của chúng được mọi người trong cộng đồng chấp nhận và tuân theo. Hành động ngôn trung có lực ngôn trung còn gọi là đích ngôn trung hay chủ đích ngôn trung chính là đối tượng nghiên cứu của dụng học. Thuật ngữ “hành động nói” nhìn chung được giải thích rất hẹp, chỉ có nghĩa là lực ngôn trung của một phát ngôn. Bất kì một phát ngôn nào cũng gồm hai phần chính là nội dung mệnh đề và lực ngôn trung.

Nội dung mệnh đề là sản phẩm của hành động tạo ngôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ