mở đầu và dấu hiệu kết thúc. Đoạn thoại Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn (một bộ phận của cuộc thoại) do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về nghĩa hoặc về ngữ dụng tạo nên. Cặp thoại Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại, đơn vị tối thiểu nhỏ nhất (đơn vị cơ sở của hội thoại), cũng tức là cặp kế cận gồm một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp. Tuy nhiên, không nhất thiết toàn bộ lượt lời này và toàn bộ lượt lời kia mới thành cặp thoại.
Và cũng không nhất thiết cặp thoại chỉ gồm một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp. Có thể có cặp thoại một tham thoại, hai tham thoại, ba tham thoại. Tham thoại Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định. Tham thoại là đơn vị cơ sở tạo nên cặp thoại.
Có tham thoại dẫn nhập và tham thoại hồi đáp (gắn với chức năng ở lời dẫn nhập và hồi đáp). Hành động ngôn trung Hành động ngôn trung là đơn vị nhỏ nhất của hội thoại. Trong cuộc thoại các hành động ngôn trung và các yếu tố kèm ngôn ngữ đều được căn cứ vào các hành động ngôn trung đi trước. Về cấu trúc nội tại, một tham thoại có thể gồm nhiều hành động ngôn trung nhưng chỉ có một hành động chủ hướng, còn lại là các hành động phụ thuộc.
-6- Hành động chủ hướng là hành động quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành động đáp thích hợp của người đối thoại. Đề tài tập trung khai thác các hành động ngôn trung có giá trị tạo nên hàm ý trong các cuộc thoại trong truyện cười. Vấn đề này sẽ được trở lại ở các phần sau. Các quy tắc hội thoại Các nhà dụng học đều khẳng định rằng: quy tắc hội thoại là có thực, các cuộc hội thoại diễn ra theo những quy tắc nhất định.
Các quy tắc hội thoại chia làm ba nhóm: - Quy tắc luôn phiên lượt lời - Các phương châm hội thoại - Thương lượng hội thoại. Khóa luận này sẽ nghiên cứu nhiều hơn đến nhóm các phương châm hội thoại 1. Quy tắc luân phiên lượt lời Trong hội thoại, khi có hai người thì lời của người này kế tiếp lời của người kia. Mỗi lần người này hay người kia (SP1 hay SP2) nói là một lượt lời.
Quy tắc này đòi hỏi mỗi người phải ý thức được về quyền được nói của mọi người tham gia cuộc thoại, phải giảm tối đa sự trùng chập với lời nói của người khác. Khoảng im lặng giữa hai lượt lời là không quá lớn. Dấu hiệu báo hết lượt lời trong tiếng Việt thông thường là các từ: à, ư, vậy… 1. Các phương châm hội thoại a.
Nguyên tắc cộng tác Nguyên tắc này do Grice nêu ra từ năm 1967 trong bài giảng của mình tại trường đại học Haverd (Mỹ). Đến năm 1975 nó được trở thành 1 cuốn sách có tựa đề “Logic và hội thoại” (Logic and conversation). Nguyên tắc này được nêu ra một cách tổng quát như sau: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh (chị) (vào cuộc thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai -7- đoạn (của cuộc thoại) mà nó xuất hiện với mục đích hay phương hướng của cuộc thoại mà anh (chị) đã chấp nhận tham gia vào”. Nguyên tắc này được Grice tách thành 4 phương châm nhỏ như sau: 1) Phương châm về lượng.
Phương châm này được Grice diễn đạt bằng hai vế: a. “Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi của đích cuộc hội thoại”. “Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn nhu cầu mà nó được đòi hỏi”. 2) Phương châm về chất.
Phương châm này được phát biểu tổng quát như sau: “Hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng đặc biệt là: a. Đừng nói điều gì mà anh tin là không đúng. Đừng nói điều gì mà anh không đủ bằng chứng”. 3) Phương châm quan hệ (phương châm quan yếu).
Hãy làm cho phần đóng góp của anh quan yếu, tức có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra. 4) Phương châm cách thức. Dạng tổng quát của phương châm này là hãy nói cho rõ ràng đặc biệt là hãy tránh lối nói tối nghĩa. - Hãy tránh lối nói mập mờ và mơ hồ về nghĩa.
- Hãy nói ngắn gọn và có trật tự. Tuy nhiên, nguyên tắc và phương châm của Grice như chính tác giả thừa nhận có nhiều điểm hạn chế là chưa đề cập đến nội dung liên cá nhân của diễn ngôn các phương châm nhiều khi còn chồng chéo. Ví dụ: Phương châm về lượng: "Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn nhu cầu nó được đòi hỏi” có phần trùng với phương châm quan yếu, bởi lớn hơn yêu cầu là không quan yếu. Hay là, vế thứ ba của phương châm cách thức là hãy nói ngắn gọn cũng trùng với phương châm quan yếu và phương châm về lượng.
Nhìn ở một khía cạnh khác, các phương châm của Grice cũng có tác dụng giải thích được nhiều cuộc thoại khi người ta nói với nhau một cách hàm ẩn và -8- các phương châm này sẽ giải thích được nghĩa hàm ẩn của cuộc thoại. Đây là một trong những vấn đề mà khóa luận đặc biệt quan tâm. Vận dụng lí thuyết nguyên tắc hội thoại của Grice để thấy được những biện pháp gây cười trong một số truyện cười dân gian Việt Nam. Phép lịch sự (Politeness, politesse) Muốn hội thoại thành công, bên cạnh nguyên tắc cộng tác không thể bỏ qua nguyên tắc lịch sự.
Nữ Giáo sư người Pháp C.Orechioni định nghĩa: “Khái niệm lịch sự bao trùm tất cả phương diện của diễn ngôn bị chi phối bởi các quy tắc có chức năng giữ gìn tính chất hài hòa của quan hệ liên cá nhân”. Chúng ta biết rằng quan hệ liên cá nhân có 2 lĩnh vực. Thứ nhất là lĩnh vực của quan hệ dọc và quan hệ ngang gồm những yếu tố ít nhiều cố định, hình thành do tập tục ít nhiều có tính chất cố định của xã hội. Thứ hai là lĩnh vực của những quan hệ liên cá nhân hình thành ngay trong cuộc hội thoại, có thể nó mất đi khi cuộc hội thoại chấm dứt, có khi để lại những dấu vết và những dấu vết này tích lũy lại qua năm tháng giao tiếp để rồi đi vào lĩnh vực thứ nhất, ứng với 2 lĩnh vực đó là quan hệ liên cá nhân ta có phương diện lịch sự.
Lịch sự quy ước của xã hội (lịch sự quy ước, lịch sự chuẩn mực) và lịch sự trong giao tiếp (lịch sự chiến lược). Lịch sự quy ước (lịch sự chuẩn mực) Đặc tính của lịch sự quy ước là có những phương tiện ít nhiều bắt buộc khiến cho bất kì ai rơi vào một vị trí của trục quan hệ dọc hay trục quan hệ ngang nào đó cũng phải sử dụng, nếu không sẽ là bất lịch sự hoặc vô lễ, hoặc hỗn láo, hoặc lạnh lùng, vô tình, khách sáo,… Phép lịch sự quy ước lại chia thành 2 nhóm theo quan hệ dọc và quan hệ ngang. Quan hệ dọc là trục quan hệ quyền thế, được chia làm nhiều bậc khác nhau từ cao xuống thấp. Chúng ta tạm gọi phép lịch sự trên trục quan hệ dọc là lịch sự vị thế.
Phép lịch sự vị thế thường dùng các phương tiện phi lời (như quần áo) cách tổ chức không gian hội thoại (chủ tịch hội nghị ngồi phía trước…), tư thế đứng, ngồi, cách nhìn, các phương tiện kèm lời như giọng nói, cử chỉ, điệu bộ,… -9- Quan hệ ngang là quan hệ thân cận, thân sơ cũng được phân chia thành các cấp bậc khác nhau. Phép lịch sự theo trục ngang tạm gọi là lịch sự thân - sơ. Các phương tiện ngôn ngữ của phép lịch sự này như: mình - ấy, cậu - tớ, mày – tao, anh – em, con – bố, ông – bà,… Lịch sự thân - sơ cũng dùng những phương tiện phi lời như khoảng cách hội thoại, càng thân nhau thì khoảng cách càng ngắn lại, động tác (vỗ vai, cầm tay,…) tư thế của cơ thể (nghiêng người ngả người về phía thoại nhân…) như cái nhìn, nụ cười, nháy mắt… Những phương tiện kèm lời như: giọng nói, tốc độ nhanh - chậm của lời nói. Tuy nhiên, hai trục quan hệ này tác động lẫn nhau.
Quan hệ thân sơ có thể biến đổi trong quá trình hội thoại. Do đó, phép lịch sự vị thế cũng có thể thay đổi theo biến đổi của quan hệ thân – sơ. Lịch sự chiến lược Lịch sự chiến lược liên quan đến cái xảy ra trong hội thoại chứ không bị quy định bởi những nguồn gốc xã hội như trong phép lịch sự quy ước. Lịch sự chiến lược là sự liên quan tới sự sử dụng các hành động ở lời và với những đề tài được đưa vào hội thoại.
Lịch sự chiến lược như vậy có thể hiểu là sự bao trùm tất cả các phương tiện của việc sử dụng các hành vi ở lời nói và việc đề cập đến các đề tài sau có thể giữ gìn được tính chất hài hòa của quan hệ liên cá nhân trong hội thoại. Thương lượng hội thoại Trong một cuộc hội thoại, các nhân vật giao tiếp dần dần thương lượng với nhau, điều chỉnh nhau về hình thức và nội dung hội thoại. Nếu không có những thương lượng như vậy hội thoại sẽ phân tán và không tiếp diễn được. Đối tượng thương lượng là hình thức hội thoại và nội dung, cấu trúc hội thoại,… Cách thức thương lượng có thể thương lượng ngay từ đầu và cũng có thể thương lượng trong quá trình hội thoại; có thể thương lượng trực tiếp, có thể thương lượng theo một kiểu ngầm ẩn.
Hành động nói - 10 - Nói năng là hành động bằng phương tiện ngôn ngữ. Các hành động được thực hiện bằng phương thức phát ngôn được gọi chung là hành động nói: Hành động được thực hiện bằng cách tạo ra một phát ngôn có ba hành động liên quan nhau: Hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung, hành động dụng ngôn. Dụng học ngày nay chủ yếu tập trung nghiên cứu hành động ngôn trung. Đích ngôn trung Hành động ngôn trung là hành động mà người nói thực hiện ngay khi nói năng, ngay trong phát ngôn của mình.
Các hành động ngôn trung có tính quy ước mà quy tắc vận hành của chúng được mọi người trong cộng đồng chấp nhận và tuân theo. Hành động ngôn trung có lực ngôn trung còn gọi là đích ngôn trung hay chủ đích ngôn trung chính là đối tượng nghiên cứu của dụng học. Thuật ngữ “hành động nói” nhìn chung được giải thích rất hẹp, chỉ có nghĩa là lực ngôn trung của một phát ngôn. Bất kì một phát ngôn nào cũng gồm hai phần chính là nội dung mệnh đề và lực ngôn trung.
Nội dung mệnh đề là sản phẩm của hành động tạo ngôn.