phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chƣơng. Chƣơng 1: Lý luận chung về nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong khu vực công ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong khu vực công ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
8 Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài. Khái niệm nguồn nhân lực Trong thời đại ngày nay, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội. chính vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến việc nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực.
Hiện nay mỗi quốc gia trên thế giới đều có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhƣ đã nêu nhƣng nhìn chung, nguồn nhân lực đều đƣợc xem xét dƣới hai góc độ là số lƣợng và chất lƣợng của bộ phận dân cƣ tham vào các hoạt động kinh tế - xã hội. Có thể xác định nguồn nhân lực gia là dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động: Một là, về số lƣợng của nguồn nhân lực đƣợc xác định bởi các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng của nguồn nhân lực. Nhƣ nguồn nhân lực tại một thời điểm xác định là bao nhiêu? Chiếm tỉ lệ bao nhiêu phần trăm trong tổng dân số? Tăng trƣởng bao nhiêu phầm trăm một năm?. Hai là, về chất lƣợng của nguồn nhân lực đƣợc thể hiện bằng các tiêu chí về tình trạng phát triển thể lực, trình độ kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu nguồn nhân lực về tuổi tác, giới tính phân bổ theo khu vực lãnh thổ, khu vực thành thị và nông thôn…Trong nguồn nhân lực, chất lƣợng đóng vai trò quyết định, đặt biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà nhà khoa học – kỹ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ thì nguồn nhân lực chất lƣợng cao có vai trò quyết định trong sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia, do vậy phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Ba là, khi nói tới nguồn nhân lực cũng không thể không nói đến phẩm 9 chất đạo đức, nhân cách của con ngƣời. Trƣớc đây, khi nói đến nguồn nhân lực là thƣờng nói đến sức ngƣời với thể lực và trí lực. Tuy nhiên, hiện nay trong điều kiện kinh tế thị trƣờng thì còn cần phải tính đến phẩm chất đạo đức và nhân cách của con ngƣời. Do vậy, để phát triển đất nƣớc trong giai đoạn hiện nay thì việc phát triển nguồn nhân lực ngoài việc nâng cao đến mặt dân trí, bồi dƣỡng và nâng cao sức khỏe cho con ngƣời thì cũng cần đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tƣởng con ngƣời.
Nhƣ vậy, có thể hiểu „„Nguồn nhân lực là tổng thể các chỉ số phát triển con người mà con người có được nhờ sự trợ giúp của cộng đồng xã hội và sự nổ lực của bản thân, là tổng thể số lượng dân và chất lượng con người, là tổng thể sức mạnh thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống, nhân cách, đạo đức, lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn và tính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có khả năng huy động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội‟‟[25, tr. Khái niệm nguồn nhân lực chất lƣợng cao Trong học thuyết giá trị lao động, C.Mác chƣa đƣa ra thuật ngữ “nhân lực chất lƣợng cao”, “nguồn nhân lực chất lƣợng cao”. Tuy nhiên, khi phân tích hao phí lao động tạo ra giá trị của hàng hóa, C.Mác đƣa ra khái niệm “lao động giản đơn”, “lao động phức tạp”. Lao động giản đơn, theo C.Mác đó là lao động mà bất kỳ một con ngƣời bình thƣờng nào cũng đều có thể làm đƣợc mà không cần phải qua đào tạo; lao động phức tạp là lao động giản đơn đƣợc nâng lên lũy thừa.
Hay nói cách khác, lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn. Tính chất lao động phức tạp theo quan niệm của C.Mác chính là chất lƣợng của lao động, là hoạt động lao động đòi hỏi ngƣời lao động phải có trình độ đào tạo, chuyên môn, kỹ năng nhất định.Mác chƣa sử dụng thuật ngữ “nguồn nhân lực chất lƣợng cao” nhƣng sau Cách mạng Tháng Mƣời Nga (năm 1917) thành công, V.Lênin đã đề cập đến thuật ngữ “nhân tài”. Trong nhiều bài nói và viết V.Lênin khẳng 10 định nhân tài không chỉ là các nhân vật vĩ đại, mà còn là những công nhân, nông dân tiên tiến. Nhƣ vậy, theo quan niệm của V.Lênin, có thể hiểu nhân tài trong công nhân, nông dân là nhân lực chất lƣợng cao.Lênin cho rằng chế độ xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo, phát triển nhân tài; xã hội sẽ phát hiện ra ngƣời có tài năng, chăm lo bồi dƣỡng và phát triển họ một cách tốt nhất; chế độ xã hội ƣu việt sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nhân tài thể hiện bản lĩnh của mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi nhân tố con ngƣời là quan trọng nhất và nhân tài có vai trò to lớn, là một động lực để phát triển đất nƣớc, phải đƣợc phát hiện, phát huy, trọng dụng vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đi đôi với việc phát hiện nhân tài, một vấn đề rất quan trọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đó là ngƣời lãnh đạo, quản lý phải biết sử dụng, trọng dụng nhân tài một cách hợp lý, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài. Hiện nay, đã có rất nhiều nhà khoa học, các công trình nghiên cứu về NNLCLC ở cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, ở cả góc độ khoa học kinh tế, khoa học giáo dục và khoa học liên ngành. Ngƣời ta có thể tiếp cận nghiên cứu NNL cũng nhƣ NNLCLC theo cả hai góc độ là định tính và định lƣợng.
Theo cách hiểu mang tính định tính thì NNLCLC là một bộ phận của lực lƣợng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trƣởng và phát triển của cộng đồng cũng nhƣ của toàn xã hội. Theo cách hiểu mang tính định lƣợng thì NNLCLC đƣợc xem xét trên hai phƣơng diện: Một là, NNLCLC là những ngƣời lao động đã qua đào tạo, có bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật. Hiểu theo cách này NNLCLC gần nhƣ đồng nhất với khái niệm lao động phức tạp mà C. Hai là, coi NNLCLC là NNL có trình độ cao đẳng, đại học, đội ngũ lãnh 11 đạo, quản lý, hoạch định chính sách và đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, giảng viên các trƣờng đại học, cao đẳng.
Nhƣ vậy, trên cơ sở quan điểm của C.Mác về lao động giản đơn, lao động phức tạp; quan điểm của Đảng ta về NNLCLC; quan niệm của một số tác giả về NNLCLC cho rằng NNLCLC là: NNLCLC là một bộ phận nguồn nhân lực có sức khỏe, phẩm chất chính trị, đạo đức, nghề nghiệp tốt, có trình độ kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ cao đáp ứng yêu cầu lao động phức tạp nơi làm việc. Khái niệm nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong khu vực công * Quan niệm về khu vực công: Có nhiều cách hiểu khác nhau về khu vực công. Trong thực tế, thuật ngữ "khu vực công" thƣờng đƣợc hiểu đồng nghĩa với "khu vực nhà nƣớc". Theo đó, khu vực nhà nƣớc là khu vực hoạt động của xã hội, trong đó nhà nƣớc giữ vai trò quyết định, chi phối.
Thuật ngữ này thƣờng đƣợc dùng để phân biệt với "khu vực tƣ" hay " khu vực phi nhà nƣớc", tức là khu vực hoạt động sản xuất sản phẩm và dịch vụ do tƣ nhân quyết định. Một cách hiểu phổ biến về khu vực công dựa trên quan hệ sở hữu, theo đó khu vực công là khu vực thuộc sở hữu nhà nƣớc. Tùy thuộc vào từng quốc gia trong việc phân chia quyền sở hữu mà hoạt động của nó thuộc về khu vực công, khu vực tƣ hay hỗn hợp giữa hai khu vực. Ví dụ, đất đai ở nhiều quốc gia là đối tƣợng thuộc khu vực công vì nó thuộc sở hữu nhà nƣớc và vì vậy, quản lý đất đai đƣợc thực hiện theo những nguyên tắc quản lý tài sản công.
Trong khi đó ở một số quốc gia khác, đất đai bao gồm cả sở hữu của nhà nƣớc, sở hữu tƣ nhân, sở hữu tập thể. * Quan niệm về nhân lực của khu vực công Nhân lực của khu vực công ở nƣớc ta chủ yếu bao gồm những ngƣời làm việc trong các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp công lập. 12 Xuất phát từ quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng, “là cái gốc của mọi công việc”, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn luôn chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức gắn với giải quyết nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.
Nguồn nhân lực khu vực công là những ngƣời đem chính sách pháp luật của Nhà nƣớc giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, đồng thời triển khai và bổ sung cho đúng đắn và phù hợp với thực tiễn. Nguồn nhân lực khu vực công là nhân tố chủ yếu, hàng đầu và là nhân tố “động” nhất của tổ chức, là ngƣời lập ra tổ chức và điều hành bộ máy tổ chức. Tổ chức bộ máy khoa học và hợp lý sẽ nhân sức mạnh của cán bộ, công chức, viên chức lên gấp bội. Nguồn nhân lực khu vực công chỉ có sức mạnh khi gắn với tổ chức và nhân dân.
* Quan niệm nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực công Xét theo tính chất lao động (lao động phức tạp, lao động giản đơn), trong hoạt động lao động của cán bộ, công viên chức trong khu vực công có những hoạt động có tính chất là lao động phức tạp mà không phải ngƣời nào cũng có thể đảm nhiệm đƣợc, đòi hỏi phải có thể lực, phẩm chất, năng lực nhất định. Thực hiện những hoạt động lao động phức tạp này trong khu vực công cấp tỉnh, cấp huyện là bộ phận NNLCLC.