CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU VỀ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ SỐ 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 1. Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhân lực: Hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của các quốc gia trên thế giới với yêu cầu từ những tiền đề nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người trong đó nguồn lực con người đóng vai trò quyết định ngày càng quan trọng đến sự phát triển nhanh và bền vững của một nền kinh tế, bởi vì nguồn lực tự nhiên ngày càng cạn kiệt và không còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia. Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về NNL: Theo liên hợp quốc “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người, có quan hệ đến sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước” Theo ngân hàng thế giới “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân”.(Trần Khánh Đức, 2010, Tr51) Theo tổ chức lao động quốc tế “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động” và NNL được hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển vì vậy NNL bao gồm toàn bộ dân cư có phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp: NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả 11 năng tham gia lao động sản xuất xã hội, tức là toàn bộ cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động (Hoàng Minh Lợi, 2018,tr14) Theo Lê Thị Hồng Diệp (2012,tr28) “Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thông qua những khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động. NNL là yếu tố cấu thành nên lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia”. Đây là khái niệm mà thường được sử dụng rộng rãi.
Theo Nguyễn Tiệp (2008) “Nguồn nhân lực là bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực của xã hội”. Dưới góc độ của kinh tế chính trị: “Nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước”. Như vậy có rất nhiều cách hiểu và cho ra các khái niệm khác nhau về NNL song theo tác giả thì “nguồn nhân lực là về con người có khả năng tạo ra giá trị cho xã hội được đánh giá thông qua chất lượng về thể lực, trí lực, tâm lực và số lượng về con lao động đủ 15 tuổi trở lên, là một nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội”. Nguồn nhân lực chất lượng cao.
Với sự đòi hỏi của nền kinh tế ngày càng phát triển, để có thể thực hiện tốt các công việc trong thời kỳ mới, NNL của mỗi quốc gia bắt buộc phải phát triển nâng cao hơn nữa để có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh tế - xã hội đó chính là NNL - CLC. Theo Lê Thị Hồng Diệp (2012, tr32) “Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực, có trình độ học vấn có chuyên môn kỹ thuật 12 cao, có kỹ năng lao động giỏi, có năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn, biết vận dụng kỹ năng, tri thức được đào tạo trong quá trình sản xuất đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, có phẩm chất đạo đức tiêu biểu”. Theo Phạm Minh Hạc (2001), “nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có kết quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân lĩnh vực của mình vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa”. Theo Nguyễn Phan Thu Hằng (2016, tr35) “Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận của nguồn nhân lực, kết tinh những gì tinh túy nhất, chất lượng nhất của nguồn nhân lực.
Đây là bộ phận lao động có phẩm chất, thái độ đúng; có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao hoặc có kỹ năng lao động giỏi; có năng lực sáng tạo; biết vận dụng những tri thức, kỹ năng được đào tạo vào trong quá trình lao động, sản xuất; nhằm đem lại năng suất và hiệu quả cao”. Như vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm NNL - CLC. Theo tác giả: NNL - CLC là một bộ phận của NNL; để chỉ một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề); và là những người tạo ra giá trị cho nền kinh tế - xã hội bao gồm cả những lao động chưa có bằng cấp. Vai trò của nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất nước, trong quá trình hướng đến mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong đó NNL - CLC là một phần không thể thiếu. Được thể hiện ở các mặt của đời sống xã hội của đất nước, nhất là đối với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và quá trình hội nhập của nền kinh tế. Vai trò của nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao đối với nền kinh tế. 13 Sự phát triển nền kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào nguồn lực con người, vốn và tài nguyên thiên nhiên, trong đó nguồn lực về con người là quan trọng nhất chính vì vậy NNL, NNL - CLC đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế.
So với các nguồn lực khác như tài nguyên thiên nhiên hay là nguồn vốn hữu hạn thì nguồn lực con người là vô hạn khi được sử dụng đúng cách về trí tuệ và chất xám, có khả năng hồi sinh và phát triển. Vai trò của nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao đối với cạnh tranh của nền kinh tế giữa các quốc gia. Thực tế chứng minh rằng một quốc gia có thể không giàu có về tài nguyên, thiên nhiên không thuận lợi nhưng nền kinh tế vẫn có thể phát triển nhanh và bền vững nếu quốc gia đó có một NNL chất lượng đề ra được những đường lối kinh tế đúng đắn. Có đội ngũ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ tri thức và lực lượng công nhân kỹ thuật tay nghề cao đông đảo chiếm phần lớn lực lượng lao động trong nước và có các doanh nhân tài ba.
Trong thế giới hiện nay nền kinh tế đang chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào nền kinh tế tri thức và trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế thì NNL, đặc biệt là NNL - CLC đóng vai trò quyết định. Điều này đã được thể hiện rõ ở tất cả các nước trên thế giới như các nước Nhật Bản, Phần Lan, Ireland. là những nước có tài nguyên nghèo nàn lạc hậu nhưng khai thác và sử dụng khá tốt NNL của đất nước chính vì vậy mà các nước này đã vươn lên là những quốc gia giàu có hàng đầu trên thế giới. Ngược lại đối với các nước Trung đông lượng tài nguyên như dầu lửa cực kỳ nhiều hay là Châu Phi với đất đai rộng lớn tuy nhiên điều đó cũng không thể làm cho những nước ở khu vực này có thể phát triển mạnh mẽ.
Chính vì vậy mà việc khai thác sử dụng cũng như NNL, nhân lực chất lượng cao có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các nước cũng như sự cạnh tranh của các khu vực. Việt Nam là một đất nước có khí hậu ôn hòa tài nguyên thiên nhiên không quá nhiều nhưng cũng rất phong phú tuy nhiên việc khai thác cũng chưa được hiệu quả và đặc biệt là nước ta có NNL dồi dào nhưng NNL - CLC còn rất hạn chế vì vậy để 14 có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới thì cần phải chú trọng hơn vào việc đào tạo khai thác, sử dụng NNL và NNL - CLC. Vai trò của nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển các doanh nghiệp. Yếu tố NNL có tay nghề, kĩ thuật trong các doanh nghiệp là điều thực sự cần thiết với những doanh nghiệp áp dụng khoa học kĩ thuật hiện đại như hiện nay thì cần có NNL có tay nghề để vận hành tốt những thiết bị máy móc để có thể tạo ra những giá trị cao và tiêu tốn ít nhân lực là điều cần thiết trong các doanh nghiệp.
+ Giúp cho các doanh nghiệp, công ty, tổ chức tiếp cận một cách nhanh chóng với tri thức, công nghệ hiện đại, tốt và mới nhất. Ứng dụng có hiệu quả tri thức, công nghệ vào sản xuất và hoạt động kinh doanh của tổ chức và doanh nghiệp. + Giúp cho năng suất lao động của công ty, tổ chức được tốt hơn nhờ vào kiến thức và kỹ năng và kinh nghiệm của đội ngũ nhân lực. NNL - CLC giúp hoàn thành tốt công việc được giao và luôn sáng tạo trong công việc, luôn tìm tòi và làm mới phương pháp làm việc để đạt được hiệu quả tốt nhất.
+ Giúp các doanh nghiệp phát triển bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. NNL đảm bảo tính sáng tạo trong các tổ chức doanh nghiệp, bởi vì chỉ có con người mới có những sáng tạo ra các hàng hóa, dịch vụ và có thể kiểm tra một cách chính xác quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.