Tổng quan nghiên cứu
Quá trình xây dựng công trình Thủy điện Hòa Bình trên dòng sông Đà vào cuối thế kỷ XX là một dấu mốc lịch sử quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, song cũng tạo ra những thách thức kinh tế và xã hội to lớn đối với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng lòng hồ. Tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, việc ngăn sông tích nước đã làm ngập 7.800 ha đất tự nhiên, trong đó có 1.400 ha đất lúa nước hai vụ màu mỡ, buộc 2.512 hộ gia đình với 15.700 nhân khẩu phải di dời đến nơi ở mới. Đề tài tập trung nghiên cứu trường hợp xã Hiền Lương, nơi người Mường phải nhường 327 ha đất nông nghiệp phì nhiêu cho lòng hồ, dẫn đến sự đứt gãy và biến đổi sâu sắc trong phương thức kế sinh nhai truyền thống.
Mục tiêu nghiên cứu then chốt của luận văn là làm rõ những biến động của môi trường sinh kế tự nhiên và nhân văn, nhận diện các hình thức mưu sinh mới hình thành và phân tích các cơ chế thích ứng văn hóa của cộng đồng người Mường tại địa phương. Về phạm vi không gian và thời gian, đề tài khảo sát chuyên sâu tại 5 xóm chịu tác động nặng nề gồm Doi, Dưng, Ké, Mơ và Lương Phong, bao quát tiến trình lịch sử từ giai đoạn trước năm 1976, cao điểm di chuyển 1982-1984 cho đến thời điểm điền dã năm 2008. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa mức độ sụt giảm nguồn lực sản xuất, chỉ ra nguyên nhân của tình trạng bất ổn đời sống và cung cấp căn cứ xác đáng giúp chính quyền nâng cao chất lượng chính sách an sinh cho hơn 70% cư dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số lòng hồ sông Đà.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng khung phân tích sinh kế bền vững do Robert Chambers và Gordon Conway đề xuất năm 1992, tiếp cận sinh kế như một tổ hợp phức hợp bao gồm năng lực, các loại tài sản vật chất, tài sản xã hội và các hoạt động đáp ứng nhu cầu tồn tại của con người. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình phân tích nguồn lực của Frank Ellis năm 2000 nhằm làm sáng tỏ cách thức các hộ gia đình tiếp cận năm nhóm vốn cơ bản gồm vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội dưới sự tác động của cơ chế chính sách và biến cố môi trường. Quan điểm nhân học của Sandra Wallman năm 1984 cũng được khai thác để phân tích sinh kế như những lớp đời sống xã hội đan xen, gắn liền với quyền sở hữu, sự lưu chuyển thông tin và việc khẳng định bản sắc tộc người trong quá trình sinh tồn.
Khung lý thuyết của đề tài định vị trên năm khái niệm chủ đạo:
- Môi trường sinh kế: Tổng hòa các yếu tố tự nhiên, tài nguyên đất rừng, mặt nước cùng các điều kiện kinh tế, chính trị và thiết chế xã hội quy định khả năng duy trì sự sống.
- Kế sinh nhai: Tập hợp các hành vi mưu sinh và phương thức kiếm sống cụ thể của cá nhân hoặc hộ gia đình nhằm tạo dựng nguồn thu nhập.
- Di dân không tự nguyện: Hiện tượng di chuyển cư trú bắt buộc do các dự án phát triển công cộng quy mô lớn làm xáo trộn không gian sống truyền thống.
- Nguồn lực thích ứng: Năng lực huy động kinh nghiệm bản địa, tái cấu trúc lao động và khai thác các cơ hội kinh tế mới để vượt qua khủng hoảng.
- Thích ứng văn hóa: Quá trình điều chỉnh phong tục, tập quán, nếp sống, kiến trúc nhà ở và cấu trúc dòng họ nhằm tương thích với không gian sinh thái mới.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp nhuần nhuyễn phương pháp luận lịch sử biện chứng với các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng chuyên ngành Dân tộc học và Xã hội học. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điền dã dân tộc học, quan sát tham dự, phỏng vấn hồi cố và phỏng vấn sâu cá nhân. Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm 5 xóm đại diện cho các vùng sinh thái đặc trưng của xã Hiền Lương với sự tham gia của 35 cán bộ quản lý địa phương cùng 120 hộ gia đình thuộc nhiều mức sống khác nhau. Phương pháp chọn mẫu mục tiêu kết hợp chọn mẫu phân tầng được áp dụng nhằm phản ánh đầy đủ hai nhóm cư dân tiêu biểu: nhóm di vén tại chỗ lên các triền đồi cao và nhóm chuyển vùng quy hoạch tập trung.
Dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ hệ thống báo cáo thống kê của Ủy ban nhân dân xã Hiền Lương giai đoạn 1995-2008, tài liệu đánh giá của tổ chức ActionAid Việt Nam và số liệu từ dự án phục hồi rừng đầu nguồn của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA). Đặc biệt, nghiên cứu đã tiếp cận nguồn tư liệu độc bản từ cuốn nhật ký công tác kéo dài nhiều thập kỷ của nguyên Chủ tịch kiêm Bí thư Đảng ủy xã Hà Viết Sớm tại xóm Ké. Quá trình điền dã thực địa được chia làm 2 đợt trong năm 2008: đợt 1 kéo dài 20 ngày từ ngày 9 đến ngày 28 tháng 6 năm 2008, và đợt 2 kéo dài 15 ngày từ ngày 6 đến ngày 20 tháng 9 năm 2008. Việc phân tích đối sánh chuỗi dữ liệu trước và sau mốc Đổi mới năm 1986 giúp luận giải thuyết phục mối quan hệ nhân quả giữa biến đổi sinh thái và biến đổi kinh tế - xã hội.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, việc ngăn dòng tích nước hồ chứa thủy điện đã làm đứt gãy hoàn toàn tư liệu sản xuất cốt lõi của người Mường tại Hiền Lương. Toàn bộ 327 ha đất nông nghiệp màu mỡ tại các thung lũng ven suối bị nhấn chìm, khiến quỹ đất canh tác bình quân giảm từ hơn 0,5 ha/hộ xuống chỉ còn dưới 0,08 ha/hộ sau năm 1986. Diện tích đất nông nghiệp hiện hữu chỉ còn lại 147 ha, chiếm tỷ trọng khiêm tốn 4% trong tổng diện tích tự nhiên 3.070 ha của toàn xã.
Thứ hai, hình thức di dân tự phát theo kiểu di vén tại chỗ chiếm hơn 66% tổng số hộ, buộc người dân phải chuyển hướng canh tác lên các triền đồi có độ dốc từ 25 đến 50 độ. Tình trạng khan hiếm đất bằng phẳng đã thúc đẩy cộng đồng khai thác triệt để 2.776 ha đất lâm nghiệp (chiếm 70% diện tích toàn xã), dẫn tới việc hình thành 515 ha đất trống đồi núi trọc (chiếm 18% đất lâm nghiệp), làm gia tăng mức độ xói mòn và suy thoái chất lượng tài nguyên đất.
Thứ ba, cơ cấu kinh tế hộ gia đình có sự phân hóa rõ rệt với sự xuất hiện của các ngành nghề kinh tế mới. Trên diện tích 889 ha mặt nước hồ (chiếm 22% diện tích tự nhiên), một bộ phận người dân đã phát triển nghề đánh bắt và nuôi cá lồng bè, đóng góp từ 15% đến 25% tổng thu nhập hàng năm của các hộ gia đình ven hồ vào năm 2007. Song song với đó, việc khai thác 783 ha rừng trồng keo lai, luồng bản địa và hoạt động xuất khẩu lao động bước đầu bù đắp phần nào sự thiếu hụt thu nhập từ nông nghiệp.
Thứ tư, không gian văn hóa tộc người và thiết chế xã hội truyền thống chịu sự biến đổi mạnh mẽ. Tỷ lệ nhà sàn gỗ lim truyền thống suy giảm hơn 70% do chi phí di dời quá tốn kém và địa hình đồi núi dốc đứng, buộc đa số hộ dân phải chuyển sang sinh sống trong các ngôi nhà trệt nền đất vách nứa. Cùng với đó, các nghi lễ tang ma, cưới xin và sinh hoạt dòng họ được tinh giản quy mô để thích ứng với điều kiện kinh tế khó khăn tại nơi ở mới.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của sự khó khăn sinh kế kéo dài bắt nguồn từ cơ chế chính sách bồi thường chưa đồng bộ trong giai đoạn thập niên 1980. Mức hỗ trợ tài chính mang tính chất tạm thời, chỉ tập trung bù đắp thiệt hại vật chất trực tiếp bằng việc cấp phát 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian ngắn mà chưa tính đến việc khôi phục sinh kế bền vững dài hạn. Khi so sánh với các công trình thủy điện được xây dựng sau năm 1993 như Yaly, Bản Vẽ hay Sơn La (giai đoạn đã ban hành Luật Đất đai 1993 và các quy chuẩn quốc tế về tái định cư), dự án Thủy điện Hòa Bình bộc lộ rõ sự thiếu hụt quy hoạch hướng nghiệp và phân bổ nguồn lực ban đầu.
Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu có thể được thể hiện qua biểu đồ cơ cấu sử dụng đất của xã Hiền Lương năm 2008 (thể hiện rõ 70% đất lâm nghiệp, 22% mặt nước, 4% đất nông nghiệp và 4% đất khác), kết hợp biểu đồ cột so sánh sản lượng lúa nước giai đoạn trước năm 1982 và năm 2007. Thêm vào đó, bảng phân tích cơ cấu thu nhập giữa các xóm khảo sát sẽ làm nổi bật sự chênh lệch mức sống giữa các xóm ven hồ thuận lợi giao thương như xóm Doi, xóm Dưng với các xóm thuần đồi núi hiểm trở như xóm Mơ và xóm Ké. Nghiên cứu khẳng định rằng việc tái thiết sinh kế bền vững cho đồng bào thiểu số đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ giữa phục hồi vốn tự nhiên và củng cố vốn xã hội tại cộng đồng.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện công tác giao đất giao rừng và tái thiết mô hình kinh tế lâm nghiệp bền vững. Ủy ban nhân dân huyện Đà Bắc cần phối hợp với Chi cục Kiểm lâm đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 2.776 ha đất lâm nghiệp, phấn đấu phủ xanh toàn bộ 515 ha đồi trọc trong lộ trình 3 năm. Mục tiêu nâng tỷ trọng thu nhập từ kinh tế rừng đạt trên 35% tổng thu nhập hộ gia đình thông qua việc nhân rộng mô hình nông lâm kết hợp trồng keo lai và luồng bản địa.
Thứ hai, khai thác hiệu quả kinh tế thủy sản trên 889 ha diện tích mặt nước lòng hồ sông Đà. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đà Bắc cần chủ trì xây dựng đề án hỗ trợ kỹ thuật nuôi cá lồng bè an toàn sinh học, giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi cho khoảng 200 hộ dân nghèo trong thời gian 2 năm tới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 20% mỗi năm.
Thứ ba, đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông và hệ thống cấp nước sạch sinh hoạt tại các cụm dân cư sườn dốc. Sở Giao thông Vận tải và chính quyền địa phương cần bố trí nguồn vốn kiên cố hóa 7 km đường liên xã kết nối trung tâm Hiền Lương với thị trấn Đà Bắc và cải tạo luồng tuyến giao thông thủy trong vòng 24 tháng, bảo đảm 100% hộ dân tại các xóm dốc như xóm Mơ, xóm Ké được tiếp cận nguồn nước sinh hoạt ổn định.
Thứ tư, bảo tồn không gian văn hóa Mường gắn kết với phát triển du lịch sinh thái cộng đồng. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình phối hợp cùng người dân xóm Ké và xóm Dưng phục dựng các mô hình nhà sàn truyền thống, duy trì nghề dệt thổ cẩm và ẩm thực bản địa trong lộ trình 5 năm, tạo thêm 150 việc làm phi nông nghiệp tại chỗ cho lao động địa phương.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn mang lại giá trị tham khảo chuyên môn sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng:
Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ di dân tái định cư thuộc các cơ quan quản lý nhà nước và ban quản lý dự án năng lượng. Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực tế về các tác động sinh kế dài hạn, giúp cải tiến quy trình lập quy hoạch tái định cư cho các dự án xây dựng hạ tầng quy mô lớn.
Nhóm thứ hai là các giảng viên, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Dân tộc học, Nhân học, Lịch sử kinh tế, Xã hội học và Phát triển nông thôn. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điền dã kết hợp tư liệu lịch sử, phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu về sự thích ứng văn hóa tộc người.
Nhóm thứ ba là các tổ chức phi chính phủ quốc tế, tổ chức phát triển cộng đồng và nhà tài trợ đa phương như JICA, ActionAid, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á. Dữ liệu luận văn hỗ trợ đắc lực cho việc thiết kế các chương trình giảm nghèo, quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và tăng cường năng lực ứng phó rủi ro cho người dân vùng cao.
Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp lữ hành du lịch sinh thái, hợp tác xã nông lâm thủy sản và chính quyền cơ sở huyện Đà Bắc. Tài liệu gợi mở các tiềm năng bản địa, giúp xây dựng các chuỗi giá trị sản phẩm nông lâm nghiệp đặc trưng kết hợp với khai thác du lịch văn hóa trải nghiệm vùng lòng hồ.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao đa số người Mường tại xã Hiền Lương chọn phương án di vén tại chỗ thay vì chuyển đến các khu tái định cư tập trung? Hơn 66% số hộ lựa chọn di vén lên các sườn đồi cao ven hồ do tâm lý gắn bó sâu sắc với quê hương bản quán và lo ngại rủi ro tại nơi ở mới. Thực tế các điểm quy hoạch xa như xã Tu Lý thời điểm năm 1982 còn rất hoang vu, thiếu hạ tầng giao thông và nguồn nước, khiến người dân quyết định bám trụ ven hồ để canh tác đất nương cũ và khai thác nguồn lợi thủy sản sông Đà.
Việc tích nước hồ chứa thủy điện Hòa Bình đã làm thay đổi cơ cấu quỹ đất của xã Hiền Lương như thế nào? Công trình đã làm ngập toàn bộ 327 ha đất lúa nước hai vụ phì nhiêu nhất của địa phương. Sau tái định cư, cơ cấu đất đai biến động sâu sắc với 2.776 ha đất lâm nghiệp chiếm 70% và 889 ha mặt nước chiếm 22%, trong khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp chỉ còn 147 ha, tương đương 4% tổng diện tích tự nhiên 3.070 ha của toàn xã.
Những nguồn sinh kế mới nào đã hình thành để bù đắp sự thiếu hụt lương thực sau khi mất đất ruộng bằng? Người dân đã chủ động chuyển đổi cơ cấu sản xuất bằng cách mở rộng diện tích trồng ngô, sắn trên đất dốc từ 25 đến 50 độ, kết hợp phát triển 783 ha rừng trồng keo và luồng. Bên cạnh đó, nghề đánh bắt và nuôi cá lồng trên diện tích 889 ha mặt nước hồ cùng với hoạt động xuất khẩu lao động đã trở thành những nguồn thu nhập quan trọng giúp giảm nghèo.
Kiến trúc nhà ở và nếp sống của người Mường tại địa bàn nghiên cứu bị biến đổi ra sao sau quá trình di dời? Hơn 70% số lượng nhà sàn gỗ lim truyền thống quy mô lớn đã biến mất tại các xóm như Doi, Ké, Mơ do quá trình tháo dỡ, vận chuyển qua địa hình dốc cao quá tốn kém và thiếu hụt nguồn gỗ tái thiết. Đa phần các hộ gia đình buộc phải chuyển sang cư ngụ trong nhà trệt nền đất nhỏ hẹp, đồng thời tinh gọn các nghi lễ dòng họ để tiết kiệm chi phí.
Luận văn đã sử dụng những nguồn tư liệu điền dã độc đáo nào trong quá trình thực hiện đề tài? Tác giả đã triển khai 2 đợt điền dã năm 2008 kéo dài tổng cộng 35 ngày tại 5 xóm khảo sát, thực hiện phỏng vấn sâu 120 hộ dân và 35 cán bộ địa phương. Nguồn tư liệu đặc sắc nhất là cuốn sổ ghi chép công tác cá nhân của nguyên Bí thư kiêm Chủ tịch xã Hà Viết Sớm, giúp tái hiện chân thực bức tranh kinh tế - xã hội của người Mường qua nhiều thập kỷ.
Kết luận
- Việc xây dựng hồ thủy điện Hòa Bình đã làm ngập 327 ha đất nông nghiệp phì nhiêu, thu hẹp diện tích đất canh tác của xã Hiền Lương xuống còn 147 ha, chiếm vỏn vẹn 4% diện tích tự nhiên.
- Tỷ lệ di vén tại chỗ đạt trên 66%, buộc người dân phải chuyển đổi sang canh tác đất dốc từ 25 đến 50 độ và khai thác 2.776 ha đất lâm nghiệp.
- Cơ cấu kinh tế mới từng bước hình thành nhờ tận dụng 889 ha mặt nước hồ sông Đà để nuôi trồng thủy sản và phát triển 783 ha rừng kinh tế.
- Không gian văn hóa thích ứng với hoàn cảnh mới thông qua sự sụt giảm hơn 70% nhà sàn truyền thống và sự tinh giản các nghi thức tập quán.
- Đề tài chứng minh tầm quan trọng của việc hoàn thiện chính sách hỗ trợ sinh kế dài hạn và giao quyền quản lý tài nguyên bền vững cho cộng đồng dân tộc thiểu số.
Về mặt đóng góp khoa học, luận văn bổ sung hệ thống luận cứ thực chứng phong phú cho lý thuyết sinh kế bền vững trong bối cảnh di dân không tự nguyện tại vùng cao Việt Nam, đồng thời cung cấp bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác quy hoạch vùng lòng hồ sông Đà.
Trong giai đoạn tiếp theo, các nghiên cứu chuyên sâu cần mở rộng đánh giá lượng hóa chuỗi giá trị nông lâm thủy sản và phân tích tác động của biến đổi khí hậu đối với hệ thống sinh kế hồ chứa trong lộ trình 3 đến 5 năm tới.
Các cơ quan quản lý nhà nước, ban quản lý dự án năng lượng và tổ chức phát triển xã hội hãy chủ động ứng dụng những phát hiện từ công trình nghiên cứu này vào việc hoạch định các chương trình an sinh xã hội toàn diện, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững và công bằng cho cộng đồng di dân tái định cư.