CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE KE TOAN QUAN TRI HANG TON KHO TẠI DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1. Kế toán quản trị trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và bản chất của kế toán quân trị Kế toán quản trị được định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau. tuy nhiên tất cả đều thống nhất chung một mục đích là kế toán quản trị cung cấp thông tin định lượng tình hình kinh tế - tài chính cho các nhà quản trị ở doanh nghiệp và kế toán quản trị là một bộ phận kế toán linh hoạt do doanh nghiệp xây dựng phù hợp.
với đặc điểm kinh tế kỹ thuật, tổ chức quản lý. Lược sử về kế toán doanh nghiệp chứng minh kế toán quản trị tồn tại rất lâu trong hệ thống kế toán doanh nghiệp. Tuy nhiên, kế toán quản trị chỉ mới được phát triển một cách hệ thống về lý luận và thực tiễn ở những thập kỷ gần đây trong các doanh nghiệp. đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô, sự tiến bộ nhất định về khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, điều kiện xử lý thông tin.
Ở Việt Nam, kế toán quản trị cũng đã xuất hiện, phát triển gắn liền chính sách, chế độ kế toán áp dụng ở các doanh nghiệp.Tuy nhiên, kế toán quản trị chỉ mới được đề cập một cách hệ thông vào đầu những năm 1990 trở về đây và trở thành yêu cầu cấp bách trong xây dựng hệ thống thông tin kế toán vào đầu những năm 2000 khi các doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh trong môi trường cạnh tranh không những ở phạm vi thị trường Việt Nam mà còn mở rộng ra thị trường khu vực. thị trường thế giới. Về mặt luật pháp, thuật ngữ kế toán quản trị cũng chỉ vừa được ghi nhận chính thức trong luật kế toán Việt Nam ban hành ngày 17/6/2003. Theo đó, kế toán quản trị được định nghĩa là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật kế toán, khoản 3, điều 4).
Tùy theo luật kế toán của mỗi nước mả có những định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị: Trang 3 “Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tỉn của một tổ chức. Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức.” Theo (Hilron, 1991) “Kế toán quản trị là một lĩnh vực kế toán được thiết kế để thỏa mãn nhu cầu thông tin của các nhà quản lý và các cá nhân khác làm việc trong một tổ chức.” Theo (Edmond et al, 2003) Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị nhưng nếu đứng trên góc độ sử dụng thông tin để phục vụ cho chức năng quản lý thì: “Kế toán quản trị là một chuyên ngành kế toán thực hiện việc ghi chép. đo lường, tính toán. thu thập, tổng hợp.
xử lý và cung cấp thông tin kinh tế có thể định lượng nhằm phục vụ chủ yếu cho các nhà quản trị trong quá trình hoạch định. kiểm soát và ra quyết định kinh doanh”. Từ đó rút ra bản chất của kế toán quản trị như sau: * Kế toán quản trị không chỉ thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã thực sự hoàn thành mà còn xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định quản trị. Để có những thông tin này kế toán phải sử dụng các phương pháp khoa học để phân tích.
xử lý sao cho phù hợp với nhu cầu thông tin quản trị. Hệ thống hoá các thông tỉn theo một trình tự dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể, phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp. # Kế toán quản trị chỉ cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp. Những thông tin đó chỉ có ý nghĩa với những.
bộ phận, những người điều hành, quản lý doanh nghiệp, không có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài. Vì vậy người ta nói rằng kề toán quản trị là loại kế toán dành cho những người làm công tác quản lý. + Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một công cụ quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp. Qua đó ta thấy rõ bản chất của kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống.
kế toán nhằm cung cấp thông tin chủ yếu cho các nhà quản trị nội bộ ở mỗi tổ Trang 4 chức. Kế toán quản trị không chỉ thu thập, xử lý và cung cấp thông tin phản ánh quá khứ mà cả thông tin hướng về tương lai mà các nhà kinh tế - tài chính(KTTC) không thể đảm trách được. Đó là những thông tin được xử lý dựa vào những thành tựu của công cụ quản lý, phương tiện tính toán hiện đại nhằm tăng cường tính linh hoạt, kịp thời. hữu ích nhưng đơn giản.
Đồng thời kế toán quản trị hợp nhất với KTTC làm cho quy trình công việc kế toán hoàn thiện và phong phú hơn.2, Vai trò và chức năng của kế toán quản trị 1. Vai trò của kế toán quản trị Trước sự phát triển vượt bậc của tiến bộ khoa học kỹ thuật, ngày càng có nhiều phương pháp sản xuất mới ra đời, sử dụng có hiệu quả hơn nữa nguồn lực xã hội, làm gia tăng nhiều lần của cải xã hội. Song song với quá trình đó là sự thay đôi tất yếu của các cách thức, các quan điểm quản lý truyền thống. Là một bộ phận của kế toán, kế toán quản trị hướng đến việc cung cấp có độ tin cậy cao cho các nhà quản lý.
Dé cung cấp được hệ thống thông tin đó, kế toán quản trị gắn bó chặt chế với các chức năng của quản lý và phục vụ cho việc thực hiện có hiệu quả các chức năng nảy. Kế toán quản trị tham gia vào việc lập kế hoạch, triển khai thực hiện kế hoạch, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện. Nhờ hệ thống thông tin do kế toán quản trị cung cấp, nhà quản lý sẽ có quyết định đúng, hợp lý để mang lại hiệu quả cao hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệt Vì vậy, kế toán quản trị là một yêu cầu tắt yếu và cấp bách đối phát triển của đoanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Chức năng của kế toán quản trị Kế toán quản trị là công cụ đánh giá việc thực hiện những mục tiêu thông qua việc phân tích cách ứng xử của chỉ phí.
lập dự toán vả truyền đạt thông tin, là công cụ kiểm tra quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh theo ké hoạch đề ra, từ đó có những quyết định hợp lý để hoạt động ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. Vì vậy mà kế toán quản trị có mối quan hệ chặt chẽ với các chức Trang Š năng của quản lý, hay nói cách khác kế toán quản trị phục vụ cho từng chức nang của quản lý. Cụ thể: - Đối với chức năng hoạch định: Giai đoạn này các nhà quản lý vạch ra những việc phải làm để đưa hoạt động của doanh nghiệp hướng về các mục tiêu đã xác định trước với các phạm vi thời gian khác nhau như kế hoạch đài hạn, kế hoạch trung hạn, kế hoạch ngắn hạn. Chức năng hoạch định tiến hành lập kế hoạch cho các chương trình hoạt động đó.
Dễ phục vụ cho chức năng này, kế toán quản trị sử dụng công cụ là dự toán. Dự toán tổng thể và chỉ tiết cung cấp cho nhà quản lý những mục tiêu cụ thể làm căn cứ để đánh giá sau này, phối hợp hoạt động giữa các bộ phận với nhau bằng một mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp. và lường trước được những khó khăn khi chúng chưa xảy ra để có biện pháp đối phó. - Đối với chức năng tổ chức thực hiện: dựa trên những dự toán do kế toán quản trị lập.
nhà quản lý sẽ triển khai thực hiện công việc. Nhờ dự toán, mọi công việc cụ thể sẽ được tiến hành theo thứ tự, mỗi bộ phận sẽ thực hiện một công việc được giao và thực hiện theo đúng chương trình đã vạch ra. - Đối với chức năng kiểm tra: Kế toán quản trị đóng vai trò kiểm soát hoạt động kinh doanh trước, trong và sau khi quá trình hoạt động kinh doanh xảy ra. Việc kiểm tra của kế toán quản trị được thực hiện chủ yếu thông qua hệ thống kiểm soát nội bộ nằm trong cơ cấu tô chức và các quy chế quản lý nội bộ của doanh nghiệp.
- Đối với chức năng đánh giá: dựa trên các báo cáo. kế toán quản trị và dựa trên dự toán đã lập, nhà quản lý sẽ đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch trong kỳ. Trên cơ sở đó, nhà quản lý cũng tìm ra các nguyên nhân gây nên sự chênh lệch giữa thực tế và kế hoạch để có biện pháp khắc phục hoặc phát huy. - Đối với chức năng ra quyết định: Chức năng ra quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có sự lựa chọn hợp lý trong nhiều phương án được đưa ra.
Để đưa ra quyết định, thông tin là yếu tố quan trọng cần thiết của nhà quản trị. tin nay phan lớn do kế toán quản trị cung cấp nhằm phục vụ chức năng ra quyết định của nhà quản trị. Khái quát về hàng tồn kho trong doanh nghiệp thương mai 1. Khái niệm hàng tồn kho Để ghi nhận một tài sản là hàng tồn kho, không chỉ xem xét tài sản đó có thỏa mãn các tiêu chuẩn ghỉ nhận tài sản của doanh nghiệp ma con xem đến tài sản mua về sử dụng cho mục đích gì.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 - Hàng tồn kho là những tài sản: ~ Dược giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường. - Dang trong quá trình sản xuât, kinh doanh đở dang. - Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp địch vụ. Hàng tồn kho bao gồm: - Hàng hóa mua về để bán: hàng hóa tồn kho, hàng mua đang di đường, hàng gửi đi bán, hàng hóa gửi đi gia công chế biến.
~ Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán. - San phẩm đở dang: Sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm. ~ Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho, gửi đi giá công chế biến và đã mua đang đi trên đường. ~ Chi phí dịch vụ đở dang.