CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỎNG QUAN TÀI LIỆU VÈ TÍNH GIÁ THÀNH SAN PHAM DUA TREN CO SO HOAT DONG (ABC) 1. Cơ sở khoa học về tính giá thành sản phẩm dựa trên cơ sở hoạt động 1. Tổng quan về kế toán quản trị 1. Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị a.
Trên thế giới Kế toán quản trị bắt nguồn từ kế toán chỉ phí, xuất hiện từ khoảng năm 1850 trong ngành đệt và ngành đường sắt ở Mỹ. Lúc bấy giờ, kế toán chỉ phí có nhiệm vụ cung cấp các thông tin về chỉ phí để phục vụ cho việc kiểm soát và lập kế hoạch nội bộ. Sau đó, kế toán chỉ phí phát triển mạnh mẽ trong các ngành: thuốc lá, hoá chất. và trở thành một công cụ quản lý hữu hiệu.
Kế toán chỉ phí cảng trở nên quan trọng hơn cùng với quá trình phát triển kinh tế và giao thương ngày một mở rộng trên thế giới. Tuy nhiên, nhu cầu quản lý ngày càng đòi hỏi phải có những công cụ quản lý hiệu quả hơn, từ đó thúc đẩy sự đôi mới của kế toán chỉ phí. Kế toán quản trị ra đời từ nền tảng là kế toán chỉ phí truyền thống, cộng với những thay đổi nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu quản lý. Trong giai doạn này, kế toán quản trị được xem là một hoạt động đơn thuần mang tính chất kỹ thuật nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Vào những năm 1960, tài liệu chính thức đầu tiên về kế toán quản trị được áp dụng cho những mô hình định lượng trong. nhiều vấn đề kiểm soát và lập kế hoạch như: phân tích hồi quy, phương trình tuyến tính và không tuyến tính, lý thuyết xác suất, lý thuyết ra quyết định. Bước sang thập kỷ 70-80, kế toán quản trị phát triển mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ. Các kỹ thuật mới được áp dụng như: xác định định phí, biến phí, dự toán lợi nhuận, dự toán tích mối quan hệ chỉ phí- khối lượng- lợi nhuận, các quyết định nên xuất hay nên mua ngoài, phân bổ chỉ phí cho sản phẩm.
Được xem là một ngành độc lập, kế toán quản trị có hiệp hội ngành nghề riêng của mình. Viện kế toán quan tri IMA là tổ chức chuyên nghiệp dành riêng cho kế toán quản trị và quản trị tài chính. Đây là một tổ chức phi lợi nhuận, có chức năng đào tạo, huấn luyện, cấp giấy phép hành nghề cho những cá nhân có nhu cầu. Trình độ quản trị ngày càng được nâng cao, do đó kế toán quản trị cũng phải được không ngừng, đổi mới.
Gần đây có một số công cụ mới được nghiên cứu và đưa vào ứng dụng, tuy nhiên các kỹ thuật, công cụ truyền thống của kế toán quản trị vẫn còn phát huy tác dụng và đang được đông đảo các doanh nghiệp áp dụng vào quá trình quản lý của mình. Ở nước ta * Giai đoạn trước năm 1995: “Trong suốt thời gian này hệ thống kế toán Việt nam chỉ nhằm điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Các báo cáo chủ yếu phục vụ cho công tác điều hành, chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên, tuy nhiên cũng đòi hỏi chỉ ết, cụ thể như chỉ phí sản xuất theo yếu tố, giá thành theo khoản mục, các yếu tố làm tăng giảm giá thành., các báo cáo giai đoạn này cũng có một số nội dung tương đồng với các báo cáo kế toán quản trị hiện nay. Tóm lại, có thẻ nói trong giai này Š mặt hình thức kế toán quản trị có những biểu hiện nhất định, nhưng về mặt bản chất thì chưa thể gọi là kế toán quản trị vì các báo cáo không.
phục vụ trực tiếp cho các nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp. * Giai đoạn từ 1996 đến nay: Từ ngày 01/01/1996, chế độ kế toán ban hành theo Quyết định 1141/QĐ- BTC/CĐKT của Bộ trưởng Bộ Tài chính có hiệu lực và áp dụng thống nhất trong cả nước, với những quy định đầy đủ về hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống số sách kế toán và hệ thống báo cáo kế toán. Hệ thống chứng từ kế toán gồm hai loại: chứng từ bắt buộc và chứng từ hướng, dẫn, cho phép doanh nghiệp tự thiết kế, thay đổi một số chỉ tiêu trên chứng từ cho phù hợp với yêu cầu quản lý khác nhau ở mỗi doanh nghiệp. Hệ thống tài khoản với những quy định trong việc hướng dẫn thiết lập các tài khoản cấp 2, 3 để theo dõi chỉ tiết doanh thu, chỉ phí và các loại tài sản khác nhau.
Hệ thống số sách kế toán với việc quy định mở số chỉ tiết theo dõi các đối tượng kế toán phức tạp và nhiều biến động để có thể ghỉ lại số liệu quá khứ của doanh nghiệp một cách đầy dủ theo thời gian. Như vậy, nội dung của chế độ kế toán ban hảnh theo Quyết định 1141/QĐ- BTC có những biểu hiện khá rõ nét của kế toán quản trị. Nhận thức sự cần thiết của thông tin kế toán quản trị trong hệ thống thông tin của doanh nghiệp tăng dần theo từng bước đổi mới của nền kinh tế. “Tuy nhiên, tiếp cận và vận dụng kế toán quản trị chỉ bắt đầu khi có sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà đặc biệt là các công ty đa quốc gia.
Cùng với sự vận động tất yếu của nền kinh tế, nhận thức được vai trò của kế toán quản trị trong việc cung cấp thông tin cho các nhà quan lý doanh nghiệp, Luật kế toán được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004 đã có những quy định về kế toán quản trị như: Tại điều 4 khoản 3 định nghĩa “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Tại điều 10 khoản 1 quy định “Kế toán ở đơn vị kế toán gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị". Như vậy, đây là lần đầu tiên trong hệ thống Luật điều chỉnh về hoạt động kế toán ở Việt Nam đề cập đến kế toán quản trị, những quy định nảy tuy chưa đầy đủ, cụ thể về kế toán quản trị nhưng đó là những cơ sở ban đầu rất quan trọng để thực hành kế toán quản trị ở doanh nghiệp. Vai trò của tính giá thành trong kế toán quản trị Tính giá thành là thước do mức chỉ phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, là căn cứ để các nhà quản trị ước định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
“Tính giá thành là căn cứ quan trọng dẻ doanh nghiệp xây dựng giá bán hợp lý đối với từng loại sản phẩm, dịch vụ, là cơ sở để xác định kết quả kinh doanh của từng sản phẩm, ngành hàng, từng bộ phận và toàn doanh nghiệp. Tính giá thành sản phẩm, dịch vụ giúp các nhà quản trị làm tốt công tác hoạch định và kiểm soát chỉ phí ở từng nơi phát sinh chỉ phí (từng phỏng ban, từng phân xưởng, từng hoạt động). Tính giá thành còn trợ giúp các nhà quản trị trong việc giảm thấp chỉ phí sản phẩm, có giải pháp cải tiến sản phẩm „ nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. 'Tính giá thành cung cấp những thông tin làm cơ sở để cho các nhà quản trị ra các quyết định, chiến lược nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Với tầm quan trọng đó, việc xây dựng và vận dụng một hệ thống tính giá thành phù hợp là rất cần thiết trong tổ chức công tác kế toán quản trị ở doanh nghiệp. Việc xây dựng hệ thống tính giá thành cần quan tâm đến một số vấn đề Sau: Cân nhắc giữa chỉ phí vả lợi ích của vấn đề tính giá thành. Một hệ thống. tính giá thành rất chỉ tiết và cụ thể có thể cung cấp nhiều thông tin cho các nhà quản trị, nhưng lại mắt nhiều thời gian và tiền bạc, nhất là chỉ phí về đào tạo.
Do vậy, hệ thống tính giá thành phức tạp chỉ vận dụng khi các nhà quản trị tin tưởng rằng hoạt động chung của toàn doanh nghiệp sẽ được cải thiện nhiều trên cơ sở các thông tin được cung cấp của hệ thống tính giá thành. Hệ thống tính giá thành cần phải được thiết kế phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại. Nó phụ thuộc vào bản chất của từng ngành sản xuất, quy trình công nghệ, tính đa dạng của sản phẩm, dịch vụ và yêu cầu về thông tin cho công tác quản trị. Do vậy khi xây dựng một hệ thống tính giá thành cần phải phân tích kỹ lưỡng quy trình sản xuất tiến hành như thế nào, cũng như cần phải xác định rõ dữ liệu nào cần thu thập, báo cáo.
Kế toán tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động 1. Khái niệm về phương pháp ABC ( Activity based costing ) Từ trước đến nay có khá nhiều khái niệm liên quan đến phương pháp ABC, mỗi học giả trên thế giới có một khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động là phương pháp do lường chỉ phí và hiệu quả của các hoạt động, sản phẩm và dịch vụ trên cơ sở các nguồn lực sử dụng bởi nhiều hoạt động khác nhau để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Theo Krumwiede và Roth (1997): “Phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) là một hệ thống kế toán quản trị tập trung đo lường chỉ phí, các hoạt động, sản phẩm, khách hàng và các đối tượng chỉ phí. Phương pháp này phân bổ chỉ phí cho các đối tượng chỉ phí dựa trên số lượng hoạt động sử dụng bởi đối tượng chỉ phí đó”.
Đối với Kaplan (1998), cho rằng: “Phương pháp ABC được thiết kế nhằm cung cấp một cách thức phân bỗ chính xác chỉ phí gián tiếp và nguồn lực cho các hoạt động, quá trình kinh doanh, các sản phẩm và dịch vụ. Mục tiêu của phương pháp ABC không phải là phân bổ chỉ phí chung cho các sản phẩm mà mục tiêu của phương pháp ABC là đo lường và tính giá tất cả các nguồn lực sử dụng cho các hoạt động mà có thể hỗ trợ cho việc sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng”. Con Horngren (2000): “Phương pháp ABC là sự cải tiến của phương pháp tính giá truyền thống bằng việc tập trung vào các hoạt động cụ thẻ như là các đối tượng chỉ phí cơ bản.