chương 1, tác giả đưa ra tổng quan để người đọc có thể nhanh chóng nắm bắt được nghiên cứu trước khi bắt đầu vào các phần chính của nghiên cứu. Cụ thể là những cơ sở lý thuyết của nghiên cứu ở chương 2 tiếp theo. 13 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương một đã giới thiệu những vấn đề chung nhất về đề tài nghiên cứu. Tiếp theo, chương hai sẽ trình bày những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan đến các yếu tố tính cách cá nhân và sự gắn kết của nhân viên với tổ chức, các thành phần của gắn kết với tổ chức theo quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này.
Từ đó, xây dựng mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu. Lý thuyết về các yếu tố tính cách cá nhân. Khái niệm Mô hình 5 tính cách cá nhân ngụ ý rằng tính cách cá nhân bao gồm 5 yếu tố tương đối độc lập cung cấp cách giải thích ý nghĩa đối với việc nghiên cứu sự khách biệt giữa các cá nhân và phản ứng của họ (Kuldeep Kumar & Arti Bakhshi, 2010). Mỗi đặc điểm trong 5 tính cách cá nhân lại là một tập hợp các đặc điểm có xu hướng xảy ra cùng với nhau ở mỗi cá nhân (Kuldeep Kumar & Arti Bakhshi, 2010).
Kể từ công trình đầu tiên của Tupes & Christal (1961), nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng năm đặc điểm cá tính là đủ để mô tả toàn bộ tính cách cá nhân. Norman (1963), chỉ ra 5 yếu tố cá nhân gồm: hướng ngoại, hòa đồng, tận tâm, ổn định cảm xúc và văn hóa. Trong khi đó Hogan (1986) đã đưa ra mô hình các đặc điểm cá nhân với nhiều khác biệt: cộng đồng, tham vọng, điều chỉnh, dễ mến, khôn ngoan và am hiểu. Goldberg (1993) chỉ ra rằng năm yếu tố tính cách cá nhân gồm: hướng ngoại, hòa đồng, tận tâm, ổn định cảm xúc và am hiểu.
Mặt khác McCrae & John (1996) cũng khẳng định những yếu tố trên với một chút điều chỉnh am hiểu thành sẵn sàng trải nghiệm. Anupama Byravan & Nerella V. Ramanaiah (1996) nhấn mạnh vào các yếu tố tinh thần, hướng ngoại, cởi mở, tận tâm và điều chỉnh yếu tố hòa đồng. Paunonen và cộng sự (1996) tiếp tục khẳng định 5 yếu tố này và điều chỉnh thành hướng ngoại, hòa đồng, tận tâm, ổn định cảm xúc, tinh thần, và sẵn sàng trải nghiệm.
Và nghiên cứu mới nhất của John, W. Slocum Jr & Don 14 Hellriegel (2009) khẳng định mô hình các yếu tố tính cách cá nhân: Hướng ngoại, sẵn sàng trải nghiệm, tận tâm, hòa đồng, ổn định cảm xúc (xem bảng 2. Trong lĩnh vực tâm lý tổ chức, nghiên cứu về tính cách cá nhân đã phát triển mạnh mẽ từ những năm đầu thập niên 90 (Murray & Michael, 1998). Đặc biệt, nó tập trung khám phá, kiểm tra tính cách của nhân viên để đánh giá cá tính tại nơi làm việc (Erdheim và cộng sự, 2060).
Và mô hình “Năm nhân tố” tính cách (The Big five Model) đã nổi lên và được mở rộng sử dụng để mô tả khía cạnh nổi bật về tính cách cá nhân con người (Digman, 1990; Goldberg, 1993 & Judge và cộng sự, 2002).1: Tóm tắt các yếu tố tính cách cá nhân từ các nghiên cứu khác Tác giả Các yếu tố tính cách cá nhân Hướng ngoại, Hòa đồng, Tận tâm, Ổn định cảm Norman’s (1963) xúc và Văn hóa Cộng đồng, Tham vọng, Điều chỉnh, Dễ mến, Hogan (1986) Khôn ngoan và Am hiểu Hướng ngoại, Hòa đồng, Tận tâm, Ổn định cảm Goldberg (1989) xúc và Am hiểu Hướng ngoại, Hòa đồng, Tận tâm, Ổn định cảm Costa & McRae (1992) xúc và Sẵn sàng trải nghiệm Anupama Byravan & Nerella 4 yếu tố Tinh thần, Hướng ngoại, Cởi mở, Tận V. Ramanaiah (1996) tâm và điều chỉnh yếu tố Hòa đồng Hướng ngoại, Hòa đồng, Tận tâm, Ổn định cảm Paunonen và cộng sự. (1996) xúc, Tinh thần, và Sẵn sàng trải nghiệm John, W. Slocum Jr & Don Hướng ngoại, sẵn sàng trải nghiệm, tận tâm, hòa Hellriegel (2009) đồng, ổn định cảm xúc Nguồn: tác giả tổng hợp Nghiên cứu sử dụng mô hình “Năm nhân tố” gồm: tính hướng ngoại, tính sẵn sàng trải nghiệm, tính tận tâm, tính hòa đồng, tính ổn định cảm xúc.
Các nhân tố được thể hiện ở hình 2.1, mỗi nhân tố được thể hiện với dãy các đặc điểm, đặc trưng. Theo Smith & Canger (2004) phát biểu: “(1) Mô hình cho phép phân loại các đặc tính tính cách cá nhân vào những mục có ý nghĩa, (2) Mô hình cung cấp cấu trúc chung và ngôn ngữ dùng cho việc nghiên cứu, và (3) Mô hình được tin rằng giải thích gần như tất cả về tính cách cá nhân”. Hướng ngoại là trạng thái chủ yếu quan tâm đến và có được sự hài lòng từ những gì bên ngoài (Murray & Michael, 1991). Theo Ehrhart và cộng sự (2006) tính hướng ngoại bao gồm tính thích giao lưu, thiên về xã hội, tập thể cũng như nó sẽ ảnh hưởng tích cực tới cá nhân trong việc ra quyết định.
Slocum Jr & Don Hellriegel (2009) cho rằng tính hướng ngoại là mức độ mà một người tìm kiếm sự kết bạn với những người khác. Những người hướng ngoại thích thú khi ở cùng những người khác. Họ tràn đầy năng lượng và thường trải qua những cảm xúc tính cực. Những người dễ gần gũi, thích kết bạn là những người có tinh thần hướng ngoại.
Những người hướng ngoại thường cảm thấy thoải mái khi giao tiếp với những người khác, mạnh dạn phát biểu những ý kiến của mình, quyết đoán, hay nói và khơi mào cho việc thiết lập những mối quan hệ mới. Ngược lại, những người khó gần, ít giao lưu. thường được gọi là những người sống nội tâm hay là những người hướng nội, họ có khuynh hướng trầm lặng và thận trọng, do đó họ cần nhiều thời gian hơn để ở một mình thư giãn, phục hồi lại sức khỏe. Về mặt tổ chức, hướng ngoại là mức độ mà một người đi lại, trò chuyện, tham gia hoạt động chung, và thích giao thiệp (Salgado, 2002).
Nhân viên hướng ngoại có xu hướng nhiều bạn bè và dành nhiều thời gian hơn trong hoàn cảnh xã hội. Họ chủ động tìm kiếm thông tin và phản hồi giúp họ xây dựng mối quan hệ hiệu quả và giúp họ điều chỉnh bản thân (Judge và cộng sự, 2002). Có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những người hướng ngoại có khuynh hướng là nhà quản lý tốt hơn so với những người ít hướng ngoại và dường như họ thường bị hấp dẫn bởi vị trí quản lý đòi hỏi những kỹ năng thiết lập mối quan hệ tốt (Erdheim và cộng sự, 2006). Thang đo hướng ngoại liên quan đến kinh nghiệm của các cảm xúc tích cực, những giao tiếp chủ yếu, sự vượt trội, và những đặc điểm chủ động (Judge và cộng sự, 2002).
Mount (1991) hướng ngoại thường được đo lường bởi các xu hướng hành vi như xã hội, cộng đồng, quyết đoán, nói nhiều và chủ động. 16 Thang đo nghiên cứu sử dụng để đánh giá tính hướng ngoại (E) là dựa theo John, W. Slocum Jr và Don Hellriegel (2009): Anh/Chị là sinh khí của các bữa tiệc Anh/Chị không nói nhiều. Anh/Chị giao tiếp nhiều túyp người khác nhau trong các bữa tiệc.
Anh/Chị thường đứng ở những vị trí kín đáo, không ai để ý tại các bữa tiệc Anh/Chị không ngại trở thành tâm điểm của sự chú ý 2. Tính sẵn sàng trải nghiệm. Sẵn sàng trải nghiệm đề cập đến các mối quan tâm của một người và mức độ theo đuổi những mối quan tâm đó. Sẵn sàng trải nghiệm là một sự đánh giá chung về nghệ thuật, tình cảm, phiêu lưu, trí tưởng tượng và nhiều kinh nghiệm khác (Digman, 1990).
Digman (1990) nhận định những cá nhân có tính sẵn sàng trải nghiệm cao thì thường có trí tưởng tượng phong phú, thích khám phá, tìm hiểu các nền văn hóa, biết về cội nguồn, phóng khoáng và thông mình. Nhu cầu của họ dễ thay đổi, có khiếu về thẩm mỹ và những giá trị cần đạt không theo một quy tắc nào (McCrae & John, 1996). Cá nhân sẵn sàng trải nghiệm cao luôn muốn xử lý mọi việc để tìm kiếm những kinh nghiệm với sự sáng tạo và trí tưởng tượng có sẵn. Tính sẵn sàng trải nghiệm liên tưởng đến sự tưởng tượng và sáng tạo (John, W.
Slocum Jr & Don Hellriegel, 2009). Những người có tính sẵn sàng trải nghiệm cao thì sẵn sàng lắng nghe những ý kiến mới, có trí tưởng tượng phong phú, thích nghệ thuật và cái đẹp, thích sự đa dạng hơn là những thói quen hằng ngày và hay đưa ra những ý kiến, niềm tin mới và những giả định của chính mình trong việc tiếp cận những thông tin mới. Những người thể hiện tính kém sẵn sàng trải nghiệm có khuynh hướng ít tiếp thu những ý kiến mới, thụ động và khó có thể thay đối suy nghĩ trong họ, thích sự đơn giản, minh bạch, rõ ràng hơn là sự mơ hồ và huyền ảo. Về mặt tổ chức, cá nhân sẵn sàng trải nghiệm cao phát triển mạnh trong những tình huống đòi hỏi sự linh hoạt và học hỏi những điều mới.
Họ có động lực cao để học các kỹ năng mới, và thiết lập tốt việc đào tạo (Murray & Michael, 1991). Phần 17 nổi bật nhất của tính cách này là độc đáo và sáng tạo, theo đó loại này là người sáng tạo và chủ yếu là người khởi xướng (Salgado, 2002). Những nhà quản lý có tính sẵn sàng trải nghiệm cao có khuynh hướng thể hiện tốt hơn vì khả năng họ đáp ứng với tình huống mới, và việc sẵn sàng lắng nghe những người khác khi có những quan điểm khác biệt. Các xu hướng hành vi liên quan đến sẵn sàng trải nghiệm bao gồm thể hiện trí tưởng tượng, văn hóa, tò mò, độc đáo, đầu óc mở rộng và thông minh (Digman, 1990).
Nó cũng phản ánh nhu cầu đa dạng khác, sự nhạy cảm thẩm mỹ và các giá trị độc đáo (Murray & Michael, 1991). Thang đo được nghiên cứu sử dụng để đánh giá tính sẵn sàng trải nghiệm (OE) là dựa theo John, W. Slocum Jr & Don Hellriegel (2009): Anh/Chị có trí tưởng tượng mạnh mẽ. Anh/Chị không hứng thú đến những ý tưởng trừu tượng.
Anh/Chị gặp khó khăn để hiểu được những ý tưởng trừu tượng. Anh/Chị không có trí tưởng tượng tốt. Anh/Chị có đầy các ý tưởng. Tính tận tâm Tính tận tâm đề cập đến mức độ mà một người được tổ chức, có hệ thống, đúng giờ, định hướng theo thành tích, và đáng tin cậy.
Tính tận tâm đề cập đến số mục tiêu mà một người tập trung vào.