CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG 1. RỦI RO TÍN DỤNG 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Trần Huy Hoàng (2011), rủi ro tín dụng xảy ra sau khi ngân hàng cấp tín dụng đến người vay, thể hiện qua việc người vay không hoàn trả nợ vay hoặc hoàn trả nợ vay bao (gồm cả gốc và lãi vay) không đúng theo kỳ hạn đã cam kết cho ngân hàng. Valsamakis và cộng sự (2005), rủi ro tín dụng xảy ra khi một hợp đồng tài chính không được thực hiện được theo thỏa thuận, rủi ro phát sinh do sự chậm trễ và không trả nợ đúng hạn của người vay.
Rủi ro tín dụng phát sinh khi dòng tiền dự kiến từ các khoản vay không được thanh toán đầy đủ. Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, có thể thấy rằng rủi ro tín dụng có 2 cấp độ là người vay không hoàn trả nợ vay đúng hạn và người vay không hoàn trả được nợ vay cho ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng (Nguồn: Trần Huy Hoàng, 2011) Theo sơ đồ 1.1, RRTD được phân thành hai loại chính là rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk): Rủi ro giao dịch là rủi ro xảy ra trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ.
Rủi ro danh mục là rủi ro xảy ra trong hoạt động quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk). Các hình thức của rủi ro tín dụng Các hình thức rủi ro tín dụng bao gồm việc không thu được lãi đúng hạn, không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng hạn, không thu đủ vốn. Tùy trường hợp mà ngân hàng hạch toán vào các khoản mục theo dõi khác nhau như lãi treo hoặc nợ quá hạn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Rủi ro tín dụng Không thu được Không thu được Không thu đủ Không thu đủ lãi đúng hạn vốn đúng hạn lãi vốn (mất vốn) Lãi treo phát Nợ quá hạn 1.
Nợ không có sinh phát sinh băng khả năng thu hồi 2.2: Phân loại rủi ro tín dụng theo mức độ của rủi ro (Nguồn: Trần Huy Hoàng, 2011) Không thu được lãi đúng hạn thì ngân hàng đưa vào mục lãi treo phát sinh, rủi ở mức thấp. Không thể thu đủ lãi thì sẽ có khoản mục lãi treo đóng băng, trừ trường hợp ngân hàng miễn giảm lãi đó cho doanh nghiệp. Không thu được vốn đúng hạn làm phát sinh khoản nợ quá hạn. Nợ quá hạn không phải tổn thất thực hiện của ngân hàng vì DN có thể gặp khó khăn về tài chính dẫn đến hoàn trả nợ gốc chậm hơn so với thời hạn đã cam kết và sẽ thanh toán sau thời hạn cam kết trong hợp đồng.
Không thể thu lãi (mất vốn) khi DN bị phá sản làm phát sinh nợ không có khả năng thu hồi, trừ trường hợp DN đủ điều kiện về xóa nợ. Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng thường bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan 1. Các nguyên nhân khách quan Nguyên nhân từ môi trường chính trị và pháp lý Môi trường chính trị cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tình hình chính trị xã hội không ổn định thì không chỉ riêng các khách hàng sản xuất mà cả các ngân hàng cũng khó có thể yên tâm tập trung vào đầu tư, mở rộng kinh doanh, đặc biệt là mở rộng tín dụng.
Hơn nữa, sự bất ổn về chính trị xã hội sẽ dẫn đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 sự mất lòng tin của dân chúng cũng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước, ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Môi trường pháp lý cũng có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng. Xác lập một khuôn khổ pháp luật đồng bộ, nhất quán điều chỉnh các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường được xem như là điều kiện tiên quyết đảm bảo thị trường hoạt động có hiệu quả. Chính vì vậy, nhân tố pháp lý có vị trí rất quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng.
Nhân tố pháp lý còn thể hiện qua các quy định của Nhà nước về hoạt động ngân hàng nói chung và các quy định về đảm bảo an toàn tín dụng nói riêng. Các quy định phù hợp sẽ tạo điều kiện phát triển hoạt động của các ngân hàng an toàn nhưng nếu các quy định không phù hợp sẽ dẫn đến sự kìm hãm phát triển, trong đó bao gồm cả việc ảnh hưởng đến mức độ an toàn trong hoạt động của các ngân hàng. Nguyên nhân từ môi trường kinh tế Môi trường kinh tế được phản ánh qua chu kỳ kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô từng thời kỳ và tác động của xu thế toàn cầu hóa, cụ thể: Chu kỳ phát triển kinh tế có tác động đến hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì hoạt động tín dụng sẽ tăng trưởng và ít rủi ro hơn.
Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái và khủng hoảng thì hoạt động tín dụng gặp khó khăn và rủi ro cao. Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển với tốc độ thấp, biểu hiện tính suy thoái, sản xuất kinh doanh của các khách hàng bị thu hẹp, không hiệu quả và gặp nhiều khó khăn, nhiều khách hàng bị thua lỗ và bị phá sản. Nếu ngân hàng lúc này vẫn tiếp tục tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì khả năng rủi ro, không thu được nợ sẽ tăng lên. Chính sách kinh tế của Chính phủ thông qua những quy định như về thuế, chính sách xuất nhập khẩu… sẽ gián tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng bởi các chính sách này tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các khách hàng của ngân hàng.
Khi chính phủ có chính sách ưu đãi như giảm thuế, bảo hộ hàng sản xuất trong nước của một ngành nào đó bằng cách đề ra hạn ngạch xuất khẩu, hoặc cấm nhập hay tăng thuế nhập khẩu và ngược lại, đưa ra chính sách giữ giá hay phá giá đồng nội tệ thì cũng gián tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng. Một đất nước mà các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 chính sách kinh tế thường xuyên thay đổi, khó dự đoán sẽ gây tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của các khách hàng và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng đối với ngân hàng. Xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới, vì thế sự biến động tình hình kinh tế, chính trị xã hội ở nước ngoài cũng ảnh hưởng tới đời sống kinh tế, chính trị xã hội trong nước, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các NHTM nói riêng. Các doanh nghiệp cũng như ngân hàng đều phải nắm bắt xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới và khu vực, những ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh của đất nước cũng như đối với cá nhân mỗi khách hàng để có những bước đi, kế hoạch đổi mới, phát triển cho phù hợp.
Việc thụ động với xu hướng phát triển toàn cầu sẽ làm cho khách hàng bị tụt hậu, không đạt được hiệu quả trong kinh doanh, không cạnh tranh được trên thị trường. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn Năng lực quản lý, điều hành của khách hàng Trình độ của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, năng lực quản lý, điều hành của Ban lãnh đạo có tính chất quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn vay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện cam kết với ngân hàng. Do đó, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý rủi ro tín dụng. Nhiều người vay sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, để đạt được mục đích của mình họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn ứng phó với Ngân hàng, như cung cấp thông tin sai sự thật, mua chuộc.Nhiều khách hàng vay vốn không tính toán kỹ lưỡng, mở rộng đầu tư quá mức, hoặc không có khả năng tính toán kỹ những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng và khắc phục những khó khăn trong kinh doanh.
Trường hợp còn lại là khách hàng vay vốn kinh doanh có lãi nhưng vẫn không trả nợ đúng hạn, họ chây ỳ với hy vọng có thể được xóa nợ, sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt. Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Năng lực tài chính là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng bởi nếu khách hàng có tiềm lực tài chính mạnh, hoạt động kinh doanh ổn định, có uy tín thì khi có biến cố xảy ra, khách hàng có khả năng chống đỡ rủi ro bằng vốn chủ sở hữu và hạn chế ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực.
Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.