Chương 1 giới thiệu chung về bối cảnh của vấn đề nghiên cứu, sự cần thiết của nghiên cứu và đưa ra câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết làm tiền đề cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu cũng như các giả thuyết nghiên cứu. Nội dung của Chương 3 trình bày cụ thể phương pháp nghiên cứu, gồm có thiết kế, xây dựng thang đo và bảng hỏi điều tra và các công cụ sử dụng cho phân tích định lượng. Các kết quả thu được dựa trên sự phân tích dữ liệu khảo sát và kiểm định các giả thuyết được trình bày trong Chương 4.
Cuối cùng, Chương 5 kiến nghị các giải pháp cho vấn đề chính sách, đóng góp cũng như hạn chế và kết luận của luận văn. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, các định nghĩa về hành vi bạo lực của học sinh (hay bạo lực học đường) sẽ được đề cập đến, cùng với việc tổng quan các nghiên cứu trước đây về bạo lực học đường trên thế giới, để sau đó đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.1 Định nghĩa chung về bạo lực học đường Có nhiều định nghĩa liên quan đến bạo lực và bạo lực học đường (World Health Organization, 2002, tr. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC, 2011), “bạo lực là việc cố ý sử dụng vũ lực hoặc quyền lực nhằm chống lại người khác bằng những hành vi có khả năng gây thiệt hại về thể chất hoặc tâm lý”. Bạo lực học đường là trường hợp đặc biệt của bạo lực.
Có nhiều dạng bạo lực học đường từ bắt nạt, đe dọa đến mang vũ khí, giết người (Flannery và đtg, 2004). Tùy vào mục đích của các nhà nghiên cứu cũng như đặc trưng văn hóa của mỗi nước mà mỗi nghiên cứu có những định nghĩa riêng về bạo lực học đường (Benbenishty, Astor, 2008). Chẳng hạn, Ando và đtg (2005) nghiên cứu hành vi bạo lực của học sinh như là bắt nạt về thể chất (đánh, đá, đe dọa, khóa cửa phòng), bắt nạt bằng lời nói (nói những điều xấu và không hay, khiến cho người khác xa lánh) và bắt nạt gián tiếp (học sinh bị lờ đi và bị cô lập khỏi nhóm bạn). Trong nghiên cứu bạo lực học đường ở 37 quốc gia, Akiba và đtg (2002) đã định nghĩa bạo lực học đường là “bất kỳ sự tấn công thể chất hay tâm lý, đe dọa, hành hung học sinh khác hoặc giáo viên trong trường học”.
Nó bao gồm các hành vi từ chửi mắng đến đe dọa cướp tài sản, tấn công bằng vũ lực, xâm hại tình dục đến giết người. Một số tác giả đã nghiên cứu hành vi bạo lực như là đe dọa tấn công bằng vũ khí, đánh/đấm/đá/tát (Song, Singer và đtg, 1998; Singer và đtg, 2011; Gudlaugsdottir và đtg, 2004; Kingery và đtg, 1998), chửi rủa, chế nhạo, lừa phỉnh, tống tiền (Chen, 2008), phá hoại tài sải (Chen, 2008; Kingery và đtg, 1998), quấy rối tình dục (Song, Singer và đtg, 1998; Singer và đtg, 1999). Nghiên cứu tổng quan về bạo lực học đường của Benbenishty và Astor (2008) đã liệt kê 7 loại bạo lực chính, gồm có bạo lực bằng lời nói (nói xấu, gièm pha, chửi rủa…), bị cô lập, hành vi bạo lực gián tiếp (phát tán hình ảnh cá nhân lên mạng, tung tin đồn…), bạo lực trực tiếp (đánh, đấm…), hành vi liên quan đến tài sản (ăn cắp, cố ý phá hoại), quấy rối tình dục, hành vi liên quan đến vũ khí (sở hữu và sử dụng vũ khí như súng, dao,…). 6 Nghiên cứu này sẽ sử dụng định nghĩa bạo lực học đường của Chen (2008, tr.
18), nhưng không phân biệt hành vi bạo lực diễn ra bên trong hay bên ngoài trường học. Theo đó, bạo lực học đường (hay hành vi bạo lực của học sinh) là hành vi của học sinh gây tổn hại về mặt thể chất hoặc tinh thần cho các học sinh khác hoặc gây thiệt hại về tài sản cá nhân của học sinh và tài sản của nhà trường. Nó bao gồm bạo lực cả về mặt thể chất và lời nói, các hành vi đe dọa, và các hành vi gây thiệt hại về tài sản.2 Tổng quan cơ sở lý thuyết Mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến hành vi bạo lực của học sinh được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học và hành vi đầu tư nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua, bởi giáo dục là một trong những vấn đề luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm hàng đầu, và việc nghiên cứu tâm lý, hành vi của trẻ em là rất quan trọng để có những cách thức giáo dục phù hợp với từng đối tượng. Bảng tổng hợp các yếu tố tác động đến hành vi bạo lực được trình bày tại Phụ lục 5 cho thấy có nhiều nhân tố nguy cơ tác động đến hành vi bạo lực của học sinh, chủ yếu được tổng quát thành 5 nhóm: đặc điểm cá nhân, các nhân tố liên quan đến gia đình, trường học, mối quan hệ với bạn bè và các nhân tố liên quan đến cộng đồng và hàng xóm (Hawkins và đtg, 2000).
Chen (2008) đã chỉ ra rằng tình trạng bạo lực ở học sinh liên quan đến đặc điểm tiêu cực của cá nhân (thái độ đối với bạo lực, kiểm soát tính bốc đồng, tính hung hăng), sự giám sát của cha mẹ, sự kém tuân thủ nội quy ở trường, sự ngược đãi (chứng kiến bạo lực, nạn nhân của bạo lực), mối quan hệ tồi giữa giáo viên và học sinh và các nguy cơ đến từ bạn bè. Ngoài ra đặc điểm về giới tính, loại trường học, trình độ học vấn cũng ảnh hưởng đến hành vi bạo lực của học sinh. Ando và đtg (2005) nghiên cứu những ảnh hưởng tâm lý học lên các hành vi bắt nạt của học sinh cho thấy sự ngược đãi, tính bốc đồng, tính hung hăng, sự tự tin của bản thân chống lại sự bắt nạt, suy nghĩ chín chắn, thái độ đối với hành vi bắt nạt có tác động đến hành vi bắt nạt của học sinh. Các nhân tố này càng ảnh hưởng mạnh hơn đến hành vi bắt nạt bởi các yếu tố trung gian là số bạn bè thường có những hành vi bắt nạt và thái độ tiêu cực ở trường học.
Nghiên cứu của Singer và đtg (2011) ủng hộ quan điểm cho rằng đặc điểm cá nhân và tình trạng giáo dục của học sinh, đặc điểm về gia đình, thói quen xem ti vi, thói quen sử dụng máy tính, việc tiếp xúc với bạo lực trong quá khứ dự báo được hành vi bạo lực của học sinh trong tương lai. 7 Nansel và đtg (2001) dựa trên những nghiên cứu về tâm lý học hành vi đã xác định các mối quan hệ gia đình, bạn bè, đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng lớn đến hành vi bạo lực của học sinh như thành tích học tập, sự biến đổi tâm lý, sự cô đơn; mối quan hệ tồi với bạn cùng lớp, dễ làm bạn; mức độ sử dụng chất kích thích, thái độ của cha mẹ đối với việc uống rượu, sự tương tác của cha mẹ với nhà trường. Ngoài ra, tùy vào mục đích nghiên cứu phục vụ cho những lĩnh vực khác nhau mà chỉ xác định mức độ tác động của một vài yếu tố nào đó đến hành vi bạo lực của học sinh. Các yếu tố khác cũng có tác động đến hành vi bạo lực của học sinh như: mức độ thường xuyên chơi trò chơi trực tuyến bạo lực (Anderson, 2003; Alikasifoglu và đtg, 2004), thái độ của cha mẹ đối với hành vi bạo lực (Orpinas và đtg, 1999), ấn tượng về trường học (Alikasifoglu và đtg, 2004), sự ủng hộ của cha mẹ (Alikasifoglu và đtg, 2004; Gudlaugsdottir và đtg, 2004) v.3 Mô hình nghiên cứu cơ bản và giả thuyết Từ cơ sở lý thuyết đã nêu ở trên và dựa vào đặc điểm của các trường học ở Việt Nam, nghiên cứu đề xuất mô hình các nhóm yếu tố tác động đến hành vi bạo lực của học sinh như sau.
Mô hình này kế thừa mô hình của Chen (2008) và có những sự điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm của Việt Nam.1 Hành vi bạo lực Hành vi bạo lực theo thang đo của Chen (2008) gồm có hành vi đánh học sinh khác, dùng các vật dụng nguy hiểm để làm hại học sinh khác, cố ý làm hư hỏng tài sản của nhà trường hoặc của học sinh khác, đe dọa bằng lời nói, chửi rủa hoặc sỉ nhục học sinh khác, cố ý quấy rầy, khiêu khích, chế nhạo học sinh khác.2 Các yếu tố tác động đến hành vi bạo lực của học sinh 2.1 Thái độ đối với bạo lực Theo Chen (2008), Ando và đtg (2005), Alikasifoglu và đtg (2004), các đặc điểm tiêu cực của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi bạo lực của học sinh. Tùy vào suy nghĩ và thái độ của học sinh về hành vi bạo lực mà có thể ảnh hưởng đến cách hành xử của họ. Nếu quan niệm cho rằng bạo lực là điều bình thường, có thể chấp nhận được thì khả năng học sinh đó sẽ sử dụng bạo lực để giải quyết khi gặp phải vấn đề nào đó. Giả thuyết H1: Học sinh càng có thái độ chấp nhận đối với những hành vi bạo lực thì mức độ xảy ra các hành vi bạo lực càng cao.2 Khả năng kiểm soát tính bốc đồng Những học sinh không thể kiểm soát được tính bốc đồng thường sử dụng hành vi bạo lực để giải quyết vấn đề.
Những người không thể kiềm chế được cơn giận dữ của mình khi bị người khác có những hành vi tác động đến bản thân thường giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng bạo lực (Chen, 2008); những học sinh tự tin vào bản thân, tự tin trong việc giải quyết các rắc rối cũng như các mối quan hệ bạn bè có ít hành vi bạo lực hơn (Ando và đtg, 2005). Giả thuyết H2: Mức độ kiểm soát tính bốc đồng càng thấp học sinh thì mức độ sử dụng bạo lực để giải quyết vấn đề càng cao.3 Tính nóng nảy Những người có tính khí nóng nảy thường rất dễ nổi cáu, rất dễ bị kích động, không kiềm chế được sự giận dữ và thường chửi thề khi giận dữ (Chen, 2008). Vì vậy, khi gặp vấn đề thường tỏ ra hung hăng và có nguy cơ sử dụng bạo lực để giải quyết vấn đề. Giả thuyết H3: Học sinh càng có tính khí nóng nảy thì mức độ sử dụng bạo lực càng cao.4 Sự giám sát của cha mẹ Gia đình luôn là chỗ dựa quan trọng đối với học sinh - tuổi vị thành niên với những biến đổi thể chất và tâm lý.