phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn được chia làm 3 chương, bao gồm: Chương một: Cơ sơ lý luận và thực tiễn của đề tài Chương hai: Thực trạng chọn trường mầm non cho con của phụ huynh Chương ba: Những yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn trường mầm non cho con của phụ huynh 11 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm công cụ 1. Giáo dục mầm non Nghiên cứu này sử dụng khái niệm của tổng cục Dân số - kế hoạch hóa gia đình: Giáo dục mầm non là khái niệm chung về việc giáo dục trẻ em trước khi vào học tiểu học, bao gồm các hoạt động tại các cơ sở chính quy, như trường mầm non, nhà trẻ hay mẫu giáo, tại các cơ sở không chính quy, hoặc tại gia đình giữa cha mẹ và trẻ nhỏ. GDMN là việc hỗ trợ trẻ để trẻ phát triển tốt nhất theo hướng phát triển toàn diện, lồng ghép, bằng cách tập trung vào các kỹ năng khác nhau về xã hội, tình cảm và nhận thức, những kỹ năng này giúp trẻ sẵn sàng cho việc học hỏi, chuẩn bị vào học tiểu học, và tham gia đời sống xã hội [23] 1.
Trường mầm non Sử dụng khái niệm theo thông tư Số: 14/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục Đào tạo ban hành ngày 7/4/2008 về Quyết định ban hành điều lệ trường mầm non: Trường mầm non độc lập là đơn vi giáo dục được liên hợp giữa nhà trẻ và mẫu giáo có trách nhiệm nhận trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi được tổ chức theo các loại hình công lập, dân lập và tư thục: Mầm non công lập do cơ quan Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên. Mầm non dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí hoạt động và được chính quyền địa phương hỗ trợ. Mầm non tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Ảnh hưởng Ảnh hưởng là tác động (từ người, sự việc hoặc hiện tượng) có thể làm dần dần có những biến đổi nhất định trong tư tưởng, hành vi, hoặc trong quá trình phát triển ở sự vật hoặc người nào đó [14] 1.
Yếu tố Yếu tố là bộ phận cấu thành một sự vật, sự việc, hiện tượng [15] 1. Phụ huynh Cha mẹ học sinh trong quan hệ với nhà trường. Các lý thuyết đƣợc sử dụng trong nghiên cứu 2. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý Thuyết lựa chọn hợp lý (hay còn gọi là thuyết lựa chọn duy lý) trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII, XIX.
Thuyết này gắn với các tên tuổi của nhà xã hội học tiêu biểu như: George Homans, George Simmel. Một số nhà triết học đã cho rằng bản chất con người là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thỏa mãn và lảng tránh nỗi khổ đau. Một số nhà kinh tế học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành đọng. Đặc trưng thứ nhất có tính chất xuất phát điểm của sự lựa chọn duy lý chính là các cá nhân lựa chọn hành động Thuyết sự lựa chọn hợp lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu.
Tức là, trước khi quyết định một hành động nào đó, con người luôn luôn đặt lên bàn cân để cân đong đo đếm giữa chi phí và lợi nhuận mang lại, nếu chi phí ngang bằng hoặc nhỏ hơn lợi nhuận thì sẽ thực hiện hành động và nếu chi phí lớn hơn thì sẽ không hành động. Thuật ngữ “lựa chọn” để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định đưa ra cách thức tối ưu nhất, phương tiện tốt nhất trong số những 13 z điều kiện hay cách thức, phương tiện hiện có, để đạt được mục đích có lợi nhất trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực. Mục đích đạt được không chỉ là vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn có thể là lợi ích xã hội hoặc các yếu tố tinh thần. Định đề này được Homans diễn đạt theo kiểu định lý toán học như sau: khi lựa chọn trong số các cách hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách nào mà họ cho là tích của xác xuất thành công của hành động đó với giá trị mà phần thưởng của hành động đó là lớn nhất.
Tức là Homans đã nhấn mạnh đến đặc trưng thứ hai của sự lựa chọn hợp lý là quá trình tối ưu hóa. Homans đã chỉ ra 3 đặc trưng cơ bản của hành vi xã hội là: hiện thực hóa hành vi phải được thực hiện trên thực tế chứ không phải trong ý niệm; hành vi đó được khen thưởng hoặc bị trừng phạt từ phía người khác; người khác ở đây là nguồn củng cố trực tiếp đối với hành vi chứ không phải là nhân vật trung gian của một cấu trúc xã hội nào đó. Ông cũng đã đưa ra một số định đề cơ bản của hành vi con người như: định đề phần thưởng; định đề kích thích; định đề giá trị; định đề duy lý; định đề giá trị suy giảm; định đề mong đợi. Mặc dù chỉ có định đề thứ 4 trực tiếp nói về tính duy lý, nhưng tất cả các định đề này cho thấy con người là một chủ thể trong việc xem xét và lựa chọn hành động nào đó có thể đem lại phần thưởng lớn nhất và có giá trị nhất.
Con người luôn có xu hướng nhân bội giá trị của kết quả hành động và khả năng hiện thực hóa hành động đó. Có nghĩa là con người sẽ quyết định lựa chọn một hành động nào đấy cả khi giá trị của nó thấp, nhưng bù lại tính khả thi của nó rất cao. Quan điểm của Georg Simmel đề cập tới nguyên tắc “cùng có lợi” trong mối tương tác xã hội giữa các cá nhân và cho rằng, mỗi cá nhân luôn cân nhắc, toan tính thiệt hơn để theo đuổi và thỏa mãn nhu cầu bản thân. Simmel cho rằng, mối tương tác giữa người với người đều dựa vào cơ chế Cho - Nhận, tức là trao đổi ngang giá nhau.
Chính cơ chế này hình thành nên sự lựa chọn mang tính chất hợp lý đối với riêng cá nhân đó trong những hoàn cảnh khác nhau. Bên cạnh đó mỗi cá nhân đều có những lựa chọn phù hợp với hoàn 14 z cảnh cũng như mong muốn đạt lợi ích tối đa từ lựa chọn đó. Sự lựa chọn hợp lý ở đây được vận dụng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, do con người luôn biết cách để đạt được lợi ích một cách tốt nhất.1] Sử dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý là cơ bản trong đề tài nghiên cứu này, người viết muốn thông qua lý thuyết này để luận lý giải quá trình suy nghĩ lựa chọn và quyết định hành động chọn trường mẫu giáo cho con của phụ huynh. Lý thuyết hành động xã hội Lý thuyết xã hội học về hành động xã hội của M.
Lý thuyết này đều coi hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người và xã hội, đồng thời là cơ sở của đời sống xã hội của con người. Mặc dù mỗi nhà xã hội học đều tiếp cận hành động xã hội ở các góc độ khác nhau song họ đều thống nhất ở một số điểm: Hành động xã hội bao giờ cũng có sự tham gia của yếu tố ý thức dù ở mức độ khác nhau có nghĩa là chủ thể luôn gắn cho hành động một ý nghĩa chủ quan nhất định. Hành động xã hội có tính định hướng mục đích Hành động xã hội là hành động hướng tới người khác. Trên thực tế không phải hành động nào cũng có tính xã hội hay đều là hành động xã hội.
Lí thuyết hành động xã hội ra đời nhằm phản ứng lại quan điểm của các nhà hành vi luận cho rằng chúng ta không thể nghiên cứu được những yếu tố bên trong qui định hành vi của các cá nhân mà chỉ có thể biết đến những phản ứng bên ngoài. Theo các nhà xã hội học, chúng ta không đơn thuần chỉ nghiên cứu phản ứng của các cá nhân trước các kích thích mà chúng ta hoàn toàn có thể nghiên cứu những gì đang diễn ra bên trong, những gì tiềm ẩn trong mỗi cá nhân.2] 15 z Để chứng minh cho quan điểm của mình, nhà xã hội học đã đưa ra mô hình sau: Hoàn cảnh Nhu cầu Động cơ Chủ thể Công cụ Mục phương tiện đích Mô hình trên đã cho chúng ta thấy cấu trúc của hành động xã hội. Các thành tố này không hề tách dời nhau mà có mối liên hệ mật thiết với nhau. Vận dụng lí thuyết này, chúng ta thấy rằng hành động cho con đi học mầm non của các bậc cha mẹ là hành động xã hội.
Đây là một hành động có ý thức, có sự cân nhắc kĩ càng của các bậc cha mẹ (chủ thể hành động). Xuất phát từ nhu cầu muốn con được phát triển toàn diện đã nảy đến động cơ cho con đi học mầm non. Các thầy cô - những người dạy trong các lớp học thêm chính là công cụ, phương tiện giúp cho các bậc cha mẹ đạt được mục đích của mình. Chúng ta có thể hiểu được hành động này của các bậc cha mẹ bởi những người làm cha làm mẹ ai cũng có mong muốn con mình ngoan, lễ phép và được phát triển theo đúng độ tuổi của trẻ.
Chính nhưng mong muốn đó mà các bậc phụ huynh cho con đi học mầm non khi đến tuổi. Đây chính là tính định hướng mục đích của hành động cho con đi học mầm non. Đặt trong "hoàn cảnh" của hành động xã hội, việc cho con đi học mầm non tất nhiên chịu tác động của các giá trị, chuẩn mực xã hội vì vậy không thể không khẳng định rằng việc cho con đi học mầm non không hướng tới những người khác đặt trong tương tác với chủ thể hành động 2. Thuyết cấu trúc – chức năng Thuyết cấu trúc - chức năng hay thuyết chức năng gắn với tên tuổi của nhà xã hội học E.