CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NGÂN HÀNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN Chương một trình bày những nội dung cơ bản của các lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan để làm cơ sở đưa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết cho nghiên cứu. Chương một sẽ được chia làm ba phần: phần đầu tiên thảo luận về những nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu này; phần thứ hai trình bày các khảo sát của nghiên cứu trước đây; phần ba là mô hình nghiên cứu được rút ra trên cơ sở hai phần trước. Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu Các lý thuyết có liên quan làm cơ sở cho việc nghiên cứu này là lý thuyết cạnh tranh và lý thuyết hành vi tiêu dùng. Lý thuyết cạnh tranh giải thích cách thức doanh nghiệp cố gắng để giành lấy khách hàng và lòng trung thành của họ bằng các dịch vụ tốt, đáp ứng nhu cầu của khách hàng và cung cấp các sản phẩm sáng tạo; trong khi, lý thuyết hành vi tiêu cung cấp các kiến thức hữu ích về sự lựa chọn hoặc hành vi lựa chọn của khách hàng cá nhân.
Lý thuyết cạnh tranh Có các khái niệm khác liên quan tới cạnh tranh.Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch”. Theo kinh tế chính trị học: “Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thử nhằm giành giật thị trường khách hàng cho doanh nghiệp mình”. Để hiểu nhất quán ta có khái niệm sau: Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất đó là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- Cạnh tranh xảy ra khi hai hoặc nhiều tổ chức hoạt động độc lập để cung cấp các sản phẩm của họ cho cùng một nhóm người tiêu dùng.
Cạnh tranh trực tiếp tồn tại khi các tổ chức sản xuất sản phẩm tương tự cho cùng một nhóm người tiêu dùng. Cạnh tranh gián tiếp tồn tại khi các công ty khác nhau làm sản xuất hoặc bán các mặt hàng khác nhau nhưng vẫn phải cạnh tranh cho cùng một số tiền trong túi khách hàng. Cả hai cạnh tranh trực tiếp và gián tiếp đều tạo áp lực cho các công ty thương mại phát triển các sản phẩm, dịch vụ và công nghệ mới để cung cấp cho người tiêu dùng lựa chọn nhiều hơn và sản phẩm tốt hơn. Việc lựa chọn nhiều hơn thường gây ra mức giá thấp hơn cho các sản phẩm, so với mức giá mà không có cạnh tranh (độc quyền) hoặc rất ít cạnh tranh (độc quyền nhóm).
Như vậy, chiến lược cạnh tranh của các công ty phụ thuộc vào đặc điểm lựa chọn của người tiêu dùng có xu hướng ảnh hưởng đến các quyết định sản xuất của công ty hướng tới sự hài lòng của người tiêu dùng. Theo Kaynak và Kucukemiroglu (1992) và Hull (2002), ngành ngân hàng có tính cạnh tranh cao, các ngân hàng không chỉ cạnh tranh với nhau, mà còn phải cạnh tranh với các tổ chức tài chính khác. Lý do là hầu hết sự phát triển các sản phẩm của ngân hàng rất dễ dàng sao chép và khi các ngân hàng cung cấp các dịch vụ giống hệt nhau, họ chỉ có thể phân biệt mình trên cơ sở của giá cả và chất lượng. Do đó, duy trì khách hàng có khả năng là một công cụ hiệu quả mà các ngân hàng có thể sử dụng để đạt được một lợi thế chiến lược và tồn tại trong môi trường cạnh tranh ngày càng tăng hiện nay của ngân hàng.
Mô hình hành vi tiêu dùng Có nhiều quan điểm về hành vi tiêu dùng, về tổng quát chúng ta có thể chia thành hai trường phái chính, đó là trường phái kinh tế hay còn gọi là trường phái theo lí trí và trường phái theo cảm xúc. Về trường phái kinh tế người ta cho rằng người tiêu dùng ra quyết định tiêu dùng dựa vào lí trí của họ để tối đa hoá giá trị sử dụng. Để thực hiện được điều này người tiêu dùng phải trải qua quá trình nhận thức bao gồm việc xác đỉnh các thuộc tính quan trọng của sản phẩm, thu thập các thông tin và đánh giá các thuộc tính của các thương hiệu cạnh tranh để chọn lựa thương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- hiệu tối ưu. Quan điểm kinh tế bỏ qua lợi ích mang tính cảm xúc khi lựa chọn tiêu dùng.
Còn đối với trường phái cảm xúc, người tiêu dùng cơ bản làm theo cảm xúc. Theo quan điểm này, người tiêu dùng chủ yếu dựa trên các tiêu chuẩn chủ quan của cá nhân như thị hiếu, niềm kiêu hãnh, ham muốn, thích thú, tò mò, mạo hiểm, thể hiện cá tính của bản thân,.để tiêu dùng sản phẩm. Kích tố bên ngoài Kích tố Marketing Kích tố phi Marketing Thương hiệu Kinh tế Giá cả Chính trị Chiêu thị Văn hóa Phân phối Xã hội Quy trình ra quyết định Nhận dạng Đặc điểm nhu cầu người mua Tâm lý Động cơ Tìm kiếm Kiến thức thông tin Nhận thức Nhân cách Thái độ Đánh giá lựa chọn Kinh nghiệm Hành vi hậu quyết định Mua hàng Thử Lặp lại Đánh giá sau khi mua LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Mô hình nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng Các nhà nghiên cứu về hành vi tiêu dùng cho thấy nhu cầu của người tiêu dùng đều được thể hiện ở cả mặt lí trí lẫn cảm xúc. Theo Thọ và Trang (2009) mô hình hành vi này của người tiêu dùng được mô tả như hình 1.
Như vậy, có thể hiểu hành vi người tiêu dùng là những phản ứng quyết định mua sắm của khách hàng dưới tác động của kích tố bên ngoài và quá trình tâm lý bên trong. Quá trình thông qua quyết định mua sắm của người tieu dùng diễn ra qua các giai đoạn sau: Nhận dạng nhu cầu Quá trình mua sắm bắt đầu xảy ra khi người tiêu dùng ý thức được nhu cầu của chính họ. Theo Philip Kotler (2001), nhu cầu phát sinh do những kích tố bên trong và những kích tố bên ngoài. - Kích tố bên trong là các nhu cầu thông thường của con người như đói, khát, yêu, thích, được ngưỡng mộ,…Chẳng hạn, một người cảm thấy đói thì muốn ăn; cảm thấy khác thì muốn uống; cảm thấy nóng nực thì muốn đi bơi.
- Kích tố bên ngoài như thời gian, sự thay đổi do hoàn cảnh, môi trường, những chi phối có tính xã hội như văn hóa, giới tham khảo, những kích thích tiếp thị của những người làm marketing,…Chẳng hạn, một người đi qua một tiệm ăn cảm nhận mùi thơm tỏa ra giữa lúc trời lạnh thì sẽ có nhu cầu muốn ăn. Tìm kiếm thông tin Theo Philip Kotler (2001), khi nhu cầu đủ mạnh sẽ hình thành động cơ thúc đẩy người tiêu dùng tìm kiếm thông tin để hiểu biết về sản phẩm. Quá trình tìm kiếm thông tin có thể ở “bên trong” hoặc ở “bên ngoài”. Song nếu việc tìm kiếm thông tin bên trong thành công, thì có thể không xảy ra việc tìm kiếm thông tin từ nguồn bên ngoài.
Các nguồn thông tin người tiêu dùng sử dụng để tìm hiểu sản phẩm thay đổi tùy thuộc vào sản phẩm muốn mua và các đặc tính của người mua. Có thể phân chia các nguồn thông tin của người tiêu dùng thành bốn nhóm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- - Nguồn thông tin cá nhân: những thông tin từ người thân, bạn bè, đồng nghiệp; - Nguồn thông tin thương mại: thông tin nhận từ quảng cáo, người bán hàng, ghi trên bao bì, tại hội trợ, triển lãm; - Nguồn thông tin công cộng: thông tin khách quan trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan chức năng của chính phủ, các tổ chức; - Nguồn thông tin kinh nghiệm: qua tìm hiểu trực tiếp như tiếp xúc, dùng thử. Mỗi nguồn thông tin đảm nhận vai trò khác nhau với mức độ nào đó ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng. Chẳng hạn, nguồn thông tin thương mại đảm nhận chức năng thông báo; còn nguồn thông tin cá nhân đảm nhận vai trò khẳng định hay đánh giá.
Tuy nhiên, số lượng và mức độ ảnh hưởng của nguồn thông tin đến quyết định mua sắm có sự thay đổi tùy theo loại sản phẩm và đặc điểm của người mua. Đánh giá các phương án lựa chọn Trước khi đưa ra quyết định mua sắm, người tiêu dùng sử lý thông tin thu được rồi đưa ra đánh giá giá trị của các thương hiệu cạnh tranh. Quá trình đánh giá thông thường được thực hiện theo nguyên tắc và trình tự sau đây Thứ nhất, người tiêu dùng xem một sản phẩm là tập hợp các thuộc tính nhất định. Trong đó mỗi thuộc tính được gán cho một chức năng hữu ích mà sản phẩm đó có thể đem lại sự thỏa mãn cho người tiêu dùng khi sở hữu nó.
Thứ hai, người tiêu dùng có khuynh hướng phân loại các thuộc tính theo mức độ quan trọng đối với nhu cầu cần được thỏa mãn của họ. Thứ ba, người tiêu dùng có khuynh hướng xây dựng cho mình một tập hợp những niềm tin vào các nhãn hiệu để làm cơ sở đánh giá các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chọn mua nhãn hiệu nào có thể đáp ứng cao nhất những thuộc tính mà họ đang quan tâm. Tuy nhiên, kết quả đánh giá này phụ thuộc vào tâm lý, điều kiện kinh tế và bối cảnh cụ thể diễn ra hành vi mua sắm của người tiêu dùng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - Quyết định mua sắm Sau khi đánh giá, ý định mua sắm sẽ hình thành. Tuy nhiên, theo Philip Kotler có hai yếu tố có thể xen vào trước khi người tiêu dùng đưa ra quyết định mua sắm cuối cùng. Yếu tố thứ nhất là thái độ của người thân, bạn bè, đồng nghiệp ủng hộ hay phản đối. Tùy thuộc vào chiều hướng và cường độ của thái độ ủng hộ hay phản đối của những người này mà người tiêu dùng quyết định mua sắm hay từ bỏ ý định mua sắm.
Yếu tố thứ hai là những yếu tố tình huống bất ngờ.