Nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng ý định chuyển đổi sang phương tiện vận tải xanh

Nghiên cứu phân tích các yếu tố tác động đến ý định chuyển đổi sang phương tiện vận tải xanh. Tìm hiểu kết quả, hạn chế và các giải pháp đề xuất.

Trường đại học

Trường Đại học Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên

2024

155
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Định nghĩa về Vận tải Xanh

Vận tải xanh là những phương tiện giao thông sử dụng năng lượng tái tạo hoặc công nghệ thân thiện với môi trường, nhằm giảm thiểu lượng khí thải carbon và ô nhiễm không khí. Phương tiện vận tải xanh bao gồm xe điện, xe buýt công nghệ, xe chia sẻ và các giải pháp giao thông bền vững khác. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu gia tăng, ý định chuyển đổi của người tiêu dùng sang vận tải xanh trở thành chủ đề nghiên cứu quan trọng. Những yếu tố ảnh hưởng bao gồm nhận thức về tác hại môi trường, lợi ích cảm nhận, chính sách hỗ trợ của nhà nước, và các yếu tố nhân khẩu học khác. Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp xây dựng chiến lược thúc đẩy chuyển đổi sang vận tải xanh một cách hiệu quả.

1.1. Ý định chuyển đổi và ý nghĩa của nó

Ý định chuyển đổi là khả năng và sự sẵn sàng của người tiêu dùng thay đổi từ phương tiện giao thông truyền thống sang vận tải xanh. Đây là bước tiền đề quan trọng để đạt được hành động thực tế. Nghiên cứu ý định chuyển đổi giúp dự báo hành vi người tiêu dùng, từ đó hỗ trợ các cơ quan quản lý trong xây dựng chính sách phù hợp và khuyến khích sử dụng phương tiện xanh.

1.2. Các loại phương tiện vận tải xanh

Phương tiện vận tải xanh bao gồm xe buýt điện, xe taxi điện, xe chia sẻ, xe máy điện và các giải pháp giao thông công cộng hiện đại. Xe công nghệ điện sử dụng pin lithium, giảm phát thải khí nhà kính đáng kể. Sự đa dạng các loại phương tiện xanh phù hợp với nhu cầu giao thông khác nhau của người dân, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi.

II. Yếu tố Đẩy Ảnh hưởng đến Ý định Chuyển đổi

Yếu tố đẩy là những vấn đề tiêu cực từ phương tiện giao thông truyền thống khiến người tiêu dùng muốn thay đổi. Nhận thức về tác hại môi trường là yếu tố đẩy mạnh mẽ, khi mà ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường trở nên ngày càng nghiêm trọng. Nhận thức về sự bất tiện của phương tiện truyền thống như tắc đường, chi phí nhiên liệu cao, tiếng ồn, cũng tạo động lực để người dân tìm kiếm giải pháp giao thông xanh. Những yếu tố này hoạt động như những lực đẩy mạnh, thúc đẩy người tiêu dùng cân nhắc việc chuyển đổi sang vận tải xanh.

2.1. Nhận thức về tác hại môi trường

Nhận thức về tác hại môi trường là động lực chính khiến người tiêu dùng quan tâm đến vận tải xanh. Khi mọi người hiểu rõ về ô nhiễm khí thải, hiệu ứng nhà kính và tác động đến sức khỏe cộng đồng, họ sẽ có ý định chuyển đổi cao hơn. Tăng cường giáo dục và truyền thông về lợi ích môi trường của phương tiện xanh là chiến lược quan trọng.

2.2. Nhận thức về sự bất tiện của phương tiện truyền thống

Sự bất tiện của giao thông truyền thống bao gồm tắc đường, chi phí xăng dầu cao, bảo dưỡng phức tạp và ô nhiễm tiếng ồn. Những khó khăn này tạo cơ hội cho vận tải xanh được chú ý. Khi người dân cảm thấy sức ép từ các vấn đề này, họ sẽ tích cực tìm kiếm giải pháp giao thông bền vững.

III. Yếu tố Kéo và Lợi ích Cảm nhận của Vận tải Xanh

Yếu tố kéo là những ưu điểm tích cực của phương tiện vận tải xanh mà người tiêu dùng được hưởng lợi. Lợi ích cảm nhận bao gồm chi phí vận hành thấp, hiệu suất năng lượng cao, hỗ trợ môi trường, và công nghệ hiện đại. Chính sách hỗ trợ từ nhà nước như miễn thuế, trợ cấp mua sắm, xây dựng trạm sạc điện là những yếu tố kéo quan trọng. Tính đổi mới cá nhân - xu hướng của những người muốn sử dụng công nghệ tiên tiến - cũng là lực kéo mạnh mẽ. Những yếu tố này tạo thu hút, khuyến khích người tiêu dùng thực hiện ý định chuyển đổi sang vận tải xanh.

3.1. Lợi ích kinh tế và công nghệ

Lợi ích kinh tế của vận tải xanh gồm chi phí điện thấp hơn xăng dầu, giảm chi phí bảo dưỡng, và tuổi thọ pin dài. Công nghệ tiên tiến như hệ thống tự lái, kết nối thông minh, và ứng dụng di động tạo trải nghiệm người dùng tốt hơn. Những lợi ích này kéo hút người tiêu dùng đặc biệt là giới trẻ và người có ý thức cao.

3.2. Chính sách hỗ trợ và các ưu đãi từ nhà nước

Chính sách hỗ trợ của chính phủ như miễn thuế nhập khẩu, trợ cấp trực tiếp khi mua xe điện, và đầu tư xây dựng hạ tầng sạc điện là yếu tố kéo quan trọng. Ưu đãi đỗ xe miễn phí, giảm lệ phí đường bộ cũng tạo lợi thế cạnh tranh. Những hỗ trợ này giảm bớt gánh nặng tài chính và khuyến khích người dân chuyển đổi sang vận tải xanh.

IV. Yếu tố Neo và Sự Điều tiết trong Quá trình Chuyển đổi

Yếu tố neo là những khó khăn, rào cản hoặc ràng buộc cản trở ý định chuyển đổi trở thành hành động thực tế. Nhân khẩu học như tuổi tác, thu nhập, trình độ học vấn, và tình trạng việc làm đóng vai trò điều tiết quan trọng. Người có thu nhập thấp có thể không đủ khả năng chi trả mặc dù có ý định mua phương tiện xanh. Chuẩn chủ quan - áp lực xã hội và ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè - cũng là yếu tố neo. Nhận thức kiểm soát hành vi - tin tưởng vào khả năng sử dụng vận tải xanh - ảnh hưởng đến quyết định cuối cùng. Hiểu rõ những yếu tố này giúp xây dựng chiến lược thúc đẩy hiệu quả hơn.

4.1. Khả năng tài chính và rào cản kinh tế

Khả năng tài chính là yếu tố neo quan trọng. Mặc dù ý định chuyển đổi cao, người có thu nhập thấp không thể thực hiện do chi phí ban đầu xe điện vẫn còn cao. Rào cản kinh tế bao gồm thiếu hạ tầng sạc điện, chi phí lắp đặt trạm sạc tại nhà, và không chắc chắn về giá trị bảo toàn xe. Các chương trình hỗ trợ tài chính, vay ưu đãi, và lỳ thanh toán có thể giảm bớt rào cản này.

4.2. Ảnh hưởng của chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát

Chuẩn chủ quan - áp lực từ gia đình, bạn bè và cộng đồng - ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi. Nếu xung quanh ủng hộ vận tải xanh, người tiêu dùng sẽ tự tin hơn. Nhận thức kiểm soát hành vi - tin tưởng khả năng sử dụng và bảo dưỡng phương tiện xanh - cũng điều tiết quá trình này. Tăng cường hình ảnh tích cực, cộng đồng người dùng, và dịch vụ hỗ trợ sẽ tăng cường nhận thức kiểm soát.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/12/2025
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi sang phương tiện vận tải xanh của người tiêu dùng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Những nghiên cứu ngoài nước Higueras-Castillo và cộng sự (2023) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe điện: Nghiên cứu đa văn hóa” đã xem xét ý định sử dụng xe điện tại 2 quốc gia là Ấn Độ và Tây Ban Nha.

Nghiên cứu này phát triển mô hình dựa trên việc tích hợp mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT2) và mô hình giá trị - niềm tin – chuẩn mực (VBN) cùng với việc xem xét yếu tố văn hóa của từng quốc gia. Mô hình UTUAT2 sẽ tập trung vào việc chấp nhận công nghệ đối với xe điện còn mô hình VBN sẽ nhấn mạnh đến tác động của yếu tố chuẩn mực cá nhân đến hành vi. Mô hình nghiên cứu gồm 5 nhân tố thuộc mô hình UTAUT2: kỳ vọng về hiệu suất (PE), kỳ vọng về nỗ lực (EE), ảnh hưởng xã hội (SI), điều kiện thuận lợi (FC), động cơ hưởng thụ (HM). Với mô hình VBN, các chuẩn mực cá nhân (PN) bị ảnh hưởng bởi nhận thức về hậu quả (AC) và quy định trách nhiệm (AR).

Bốn định hướng giá trị được xem xét trong mối quan hệ với AC trong nghiên cứu bao gồm giá trị vị tha (ALV), giá trị vị kỷ (EGV), giá trị sinh quyển (BIV) và sự cởi mở với thay đổi (OTC); đồng thời, mối quan tâm về môi trường (EC) cũng được tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu. Ngoài các nhân tố kể trên, nghiên cứu còn tập trung vào khía cạnh văn hóa của 2 quốc gia, nhằm tìm hiểu sự điều tiết của văn hóa tới ý định sử dụng dưới góc độ của UTUAT2 và VBN. Nguồn: Higueras-Castillo và cộng sự, 2023 Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe điện 8 Để kiểm tra mô hình đề xuất, một cuộc khảo sát đã được thực hiện. Bảng hỏi của cuộc khảo sát bao gồm 2 phần trong đó phần đầu tiên nhằm thu thập thông tin nhân khẩu học của người được khảo sát, phần thứ hai tìm hiểu ý định sử dụng xe điện của những người tham gia.

Các mục khảo sát được tính theo thang đo Likert từ 1 – 7. Một nghiên cứu thí điểm đã được thực hiện trước nghiên cứu cuối cùng, giúp nghiên cứu hiện tại có thể thực hiện những sửa đổi nhỏ cho bảng hỏi. Mẫu nghiên cứu của cả hai quốc gia đều được thu thập thông qua kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện, sau khi loại bỏ các câu trả lời không phù hợp, tại Ấn Độ thu được 378 câu trả lời và tại Tây Ban Nha với 265 câu trả lời. Dữ liệu được đánh giá thông qua phần mềm thống kê như IBM SPSS phiên bản 20 và IBM Amos phiên bản 26.

Mô hình phương trình cấu trúc (SEM) đã được sử dụng để kiểm tra mô hình đề xuất. Thông qua việc kiểm định mô hình và giả thuyết, kết quả cho thấy, hầu hết các giả thuyết của bài nghiên cứu ở cả hai mô hình UTAUT2 và VBN đều được ủng hộ trừ 2 giả thuyết về tác động của giá trị vị kỷ (EGV) và sự cởi mở với thay đổi (OTC) đến yếu tố nhận thức hậu quả (AC), đồng thời nghiên cứu cũng chứng minh được sự điều tiết của các khía cạnh văn hóa khác nhau đến ý định sử dụng xe điện thông qua việc phân tích cấu trúc đa nhóm (MGA). Kết quả cho thấy với UTAUT2, kỳ vọng về hiệu suất (PE) có ý nghĩa quan trọng trong ý định sử dụng xe điện đối với cả người trả lời ở Ấn Độ và Tây Ban Nha, kỳ vọng về nỗ lực (EE) không có ảnh hưởng đáng kể trong cả hai mẫu, còn với ảnh hưởng từ xã hội (SI) có ảnh hưởng đáng kể đến ý định sử dụng đối với mẫu Tây Ban Nha nhưng không ảnh hưởng đến người được khảo sát ở Ấn Độ. Ngược lại, điều kiện thuận lợi (FC) ảnh hưởng đáng kể đến ý định sử dụng trong nhóm người được khảo sát ở Ấn Độ nhưng lại không ảnh hưởng ở Tây Ban Nha; còn lại, động cơ hưởng thụ (HM) có ý nghĩa quan trọng đối với ý định sử dụng ở cả Ấn Độ và Tây Ban Nha.

Còn đối với mô hình VBN, kết quả chỉ ra chuẩn mực cá nhân (PN) là yếu tố quan trọng nhất với ý định sử dụng xe điện ở cả hai quốc gia, đồng thời nhận thức hậu quả (AC) và quy định trách nhiệm (AR) cũng có tác động trực tiếp và đáng kể đến chuẩn mực cá nhân. Ngoài ra, mối quan tâm về môi trường (EC) ảnh hưởng đáng kể đến ý định mua xe điện ở cả hai mẫu, theo đó những người tham gia khảo sát của cả hai quốc gia đều coi vấn đề môi trường là thiết yếu và xe điện là một lựa chọn ít gây ô nhiễm hơn. Dựa trên những kết quả trên, nhóm tác giả đã đưa ra các đóng góp, đề xuất bao gồm việc sử dụng các phương tiện truyền thông trực tuyến và ngoại tuyến có sẵn để công khai các vấn đề ô nhiễm do các phương tiện chạy bằng 9 nhiên liệu hóa thạch truyền thống gây ra, xem xét sự khác biệt về văn hóa được quan sát trong các chiến lược tiếp thị, nêu bật những ưu điểm của xe điện so với các phương tiện truyền thống, khuyến khích truyền miệng vì những lời khuyên từ bạn bè và người thân là rất quan trọng khi sử dụng hàng hóa và dịch vụ. Nghiên cứu về ý định chuyển đổi, Jing và cộng sự (2023) đã thực hiện nghiên cứu “Điều tra các nhân tố đa chiều ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi sang xe buýt trường học của các phụ huynh Trung Quốc: Ứng dụng khung Đẩy – Kéo – Neo” nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi của các phụ huynh, đồng thời xem xét sự phù hợp của khung PPM trong việc khám phá các nhân tố tác động đến ý định chuyển đổi.

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình phương trình cấu trúc SEM nhằm đo lường sự tác động, phân tích nhân tố tác động (CFA) được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến tiềm ẩn và các biến đo lường có phù hợp với giả thuyết không, bên cạnh đó việc phân tích mạng Bayesian cho thấy những thay đổi trong tốc độ chuyển đổi với các biến khác nhau. Nhóm nghiên cứu đã thiết kế bảng hỏi ngang (cross-sectional) gồm 2 phần: thông tin nhân khẩu học và thông tin về ý định chuyển đổi sang xe buýt trường học của phụ huynh. Với 993 phiếu khảo sát được phát ra, nhóm nghiên cứu thu nhận được 463 phiếu trả lời có giá trị. Sau phân tích, khung PPM được xác nhận là có thể áp dụng để nghiên cứu về ý định chuyển đổi sang xe buýt trường học của các phụ huynh, bên cạnh đó ba khía cạnh của rủi ro được cảm nhận và bốn khía cạnh của chất lượng dịch vụ được cảm nhận cũng được kiểm chứng.

Với sự tác động của các yếu tố Đẩy – Kéo – Neo kết quả cho thấy: sự hài lòng thấp là nhân tố được nghiên cứu chính trong các yếu tố đẩy ở bài nghiên cứu này, đã chỉ ra phụ huynh càng không hài lòng với phương thức hiện tại thì càng có khả năng chọn xe buýt trường học. Với các yếu tố kéo, kết quả cho thấy nhận thức sự hữu ích tác động đến ý định chuyển đổi nhiều hơn nhận thức tính dễ sử dụng. Bên cạnh đó, trong kết quả về sự tác động của các yếu tố kéo: phụ huynh có thể thể hiện ý định chuyển đổi mạnh mẽ hơn nếu chính phủ cải tiến quy định về xe buýt trường học và cung cấp các khoản trợ cấp với loại hình này. Với các yếu tố neo, giá trị được cảm nhận có ảnh hưởng không đáng kể đến ý định chuyển đổi trong khi rủi ro được cảm nhận lại là rào cản chính trong ý định chuyển đổi của các phụ huynh, ngoài ra, tính trì hoãn cũng có ảnh hưởng đáng kể đến ý định chuyển đổi sử dụng xe buýt trường học.

10 Nguồn: Jing và cộng sự, 2023 Hình 1.2: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi sang xe buýt trường học Manutworakit và Choocharukul (2022) với nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng xe điện chạy pin ở Thái Lan – Mở rộng mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT)” mục đích kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng xe điện chạy pin (BEV) của chủ sở hữu ô tô. Khung lí thuyết được sử dụng cho nghiên cứu là mô hình UTAUT mở rộng. Bên cạnh những nhân tố thuộc mô hình UTAUT ban đầu (kì vọng hiệu suất, kì vọng nỗ lực và ảnh hưởng xã hội, điều kiện thuận lợi), 4 nhân tố động cơ hưởng thụ, lợi ích giá cả, mối quan tâm về môi trường và biện pháp chính sách được bổ sung thêm vào mô hình nghiên cứu đề xuất. Dữ liệu khảo sát được thu thập ở Bangkok và 5 tỉnh lân cận của Thái Lan gồm Nakhon Pathom, Pathum Thani, Nonthaburi, Samut Prakan và Samut Sakorn với đối tượng nghiên cứu là chủ sở hữu ô tô, trên 18 tuổi và có quan tâm đến xe điện chạy pin (BEV).

Khảo sát được thực hiện từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 12 năm 2021 dưới hình thức trực tuyến do tình hình COVID-19. Dữ liệu sau khi được sàng lọc thu được 403 mẫu hợp lệ dùng để phân tích. Bảng câu hỏi được chia thành hai phần: mô tả nhân khẩu học của người trả lời và 55 câu hỏi khảo sát xây dựng dựa theo cấu trúc mô hình lý thuyết đề xuất. Các mục khảo sát được đo lường bằng thang đo Likert 5 điểm, từ “rất không đồng ý = 1” đến “hoàn toàn đồng ý = 5”.

Phần cuối cùng, người được khảo sát được hỏi về các đề xuất về biện pháp chính sách mà họ nghĩ Thái Lan nên thực hiện cho việc sử dụng xe điện chạy pin 11 (BEV). Độ tin cậy và chính xác của mô hình đo lường đã được kiểm tra bằng WarpPLS 7.0 với mô hình phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM). Nguồn: Manutworakit và Choocharukul, 2022 Hình 1.3: Mô hình nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng xe điện chạy pin Kết quả chỉ ra ý định mua bị ảnh hưởng một cách mạnh mẽ và tích cực bởi các nhân tố: kỳ vọng hiệu suất, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội, động cơ hưởng thụ và mối quan tâm về môi trường. Trái lại, ý định mua xe điện chạy pin lại không bị ảnh hưởng bởi lợi ích giá cả và biện pháp chính sách.

Ngoài ra, điều kiện thuận lợi cũng không có tác động đáng kể đến ý định mua.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ