chương 1, người đọc cũng có thể nắm được kết cấu và khái quát nội dung của 05 chương trong đề tài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về vấn đề nghiên cứu 2.1 Khái niệm Sàn thương mại điện tử và mua hàng trực tuyến a. Khái niệm sàn thương mại điện tử Hiện nay, khái niệm thương mại điện tử chưa được thống nhất, vẫn còn tồn tại nhiều cách định nghĩa khác nhau. Nhưng nhìn chung, ta có hai quan điểm khái niệm thương mại điện tử như sau: • Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa hẹp: Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng viễn thông khác.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet".[1] • Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa rộng: Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và các hoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng. Theo quan điểm này, có hai định nghĩa khái quát được đầy đủ nhất phạm hoạt động của Thương mại điện tử: Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại [commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại [commercial] bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư 11 4 0 vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ".[1] Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thương mại điện tử. Khái niệm mua hàng trực tuyến Là một dạng thương mại điện tử cho phép khách hàng trực tiếp muahàng hóa hoặc dịch vụ từ người bán qua Internet sử dụng trình duyệt web.
Người tiêu dùng tìm thấy một sản phẩm quan tâm bằng cách trực tiếp truy cập trang web của nhà bán lẻ hoặc tìm kiếm trong sốcác nhà cung cấp khác sử dụng công cụ tìm kiếm mua sắm, hiển thị sự sẵn có và giá của sản phẩm tương tự tại các nhà bán lẻ điện tử khác nhau [2] 2.2 Cơ hội và thách thức a. Cơ hội Năm 2021, Việt Nam có khoảng hơn 70 triệu người sử dụng Internet. Trong đó hơn 40 triệu người dùng điện thoại thông minh trong cuộc sống, sinh hoạt và mua sắm hàng ngày (nguồn Ecomax, truy cập ngày 12/12/2021). Đây là những điều kiện rất tốt để các nhà bán lẻ online đầu tư, mở các gian hàng trực tuyến tại Việt Nam và tạo chỗ đứng vững chắc cho thị trường, vốn hóa cổ phần và lên sàn chứng khoán.
Tiki, Lazada, Shopee, và Sendo tại Việt Nam là những trang thương mại điện tử buôn bán trực tuyến quy mô rộng lớn và hoạt động với tần suất cao, hứa hẹn đem lại nhiều cơ hội để phát triển ngành thương mại điện tử trong thời gian tới, mở ra thêm nhiều kỷ nguyên mới đi đôi với nền công nghệ 4. Thách thức 12 4 0 Tốc độ tăng trưởng cao thì luôn đi đôi với nhiều thách thức đặt ra, phải kể đến sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ logistics, chuyển phát và hoàn tất đơn hàng. Sự không hài lòng trong trải nghiệm giao hàng là một điều khá phổ biến đang diễn ra trong hoạt động thương mại điện tử ở khu vực Đông Nam Á. Tại Việt Nam, trung bình phải mất khoảng 1 tuần thì sản phẩm mới được chuyển phát đến tận tay người mua.
Mặc dù phát triển mạnh mẽ nhưng thị trường thương mại điện tử cũng tạo ra một cuộc sàng lọc khắc nghiệt như Leflair đã ngưng hoạt động tại Việt Nam. Họ cho rằng, xây dựng và mở rộng thương mại điện tử luôn đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn, đặc biệt là vốn, trong khi các đối thủ cạnh tranh không ngừng gia tăng lỗ lũy kế đến đáng sợ. Tính đến năm 2020, Lazada đã “đốt” hơn 5.000 tỷ đồng, dẫn đầu về cuộc chơi chịu lỗ, tuy nhiên hiệu quả đem lại không hoàn toàn như mong đợi. Thị trường thương mại điện tử cũng đã chứng kiến sự ra đi của nhiều thương hiệu không chỉ có Leflair, như Robbins, Adayroi.
An toàn, an ninh mạng, cho doanh nghiệp và cả người tiêu dùng cũng là một vấn đề đáng quan tâm và là vấn đề nan giải lớn cho các nhà quản lý doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật buộc các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong thương mại điện tử không được thực hiện một số hành vi có thể xâm hại tới quyền và lợi ích của người tiêu dùng. Tuy nhiên, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa có tính khả thi cao nên người tiêu dùng vẫn chịu nhiều thiệt thòi và chưa yên tâm khi mua sắm online. Để thanh toán trực tuyến đi vào đời sống, trở thành thói quen của người dùng, cần có sự liên kết của Nhà nước, hệ thống ngân hàng với các doanh nghiệp thương mại điện tử, nhà cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến… trong việc thay đổi nhận thức, tạo thói quen của người dùng.
Cơ sở hạ tầng công nghệ chưa tốt không chỉ khiến cho thương mại điện tử của Việt Nam khó cạnh tranh với các quốc gia phát triển khác có thể đối mặt với các sự cố không mong muốn. Về mức độ uy tín, các nhà bán hàng trực tuyến trong nước còn yếu so với nhiều nhà bán hàng trực tuyến toàn cầu. Chất lượng, mẫu mã sản phẩm quốc nội vẫn lép vế so với sản phẩm tương tự của nhiều nước khác, tình trạng hàng giả, hàng nhái xuất hiện rất 13 4 0 nhiều và giao hàng không đúng sản phẩm mô tả làm cho thương hiệu của các doanh nghiệp nói chung bị giảm mạnh.2 Thông tin về shopee 2.1 Tổng quan Shopee là sàn giao dịch thương mại điện tử có trụ sở đặt tại Singapore, thuộc sở hữu của tập đoàn SEA (trước đây là Garena), được thành lập vào năm 2009 bởi Forrest Li. Shopee được giới thiệu lần đầu tại Singapore vào năm 2015,với định hướng là sàn thương mại điện tử.Thành lập năm 2015 nhưng cho đến tháng 8/2016 Shopee mới chính thức bước chân vào thị trường Việt Nam và khuấy đảo thị trường mua sắm online Việt Nam.
Trụ sở: Shopee có trụ sở chính nằm tại: 5 Science Park Drive, Shopee Building, Singapore.2 Ưu điểm và hạn chế a. Ưu điểm • Thánh bắt xu hướng : Mặc dù “sinh sau đẻ muộn” so với Tiki, Lazada, Sendo nhưng khi Shopee xuất hiện với những chiến dịch quảng cáo rầm rộ, ưu đãi cực hot, mã giảm giá cho đến miễn phí vận chuyển đã thu hút người tiêu dùng Việt. • Chiếm thị phần cao trong TMĐT Trong quý 2/2019 Shopee đứng thứ nhất toàn quốc cả lượt tải về lẫn sử dụng ứng dụng. • Có nguồn tài chính lớn, rót vốn liên tục: Trong 6 tháng đầu năm 2018, cũng được công ty mẹ là Tập đoàn SEA (Singapore) bổ sung thêm hơn 1.200 tỷ đồng vốn điều lệ.
• Sản phẩm tiện dụng, đa dạng, gần gũi với đối tượng khách hàng: • Chính sách đổi trả hàng theo quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho người mua. • Mạng lưới phân phối rộng lớn, nhanh chóng • Chính sách bảo vệ người mua hàng cũng như người bán hàng trên Shopee Rất tốt. 14 4 0 • Các sản phẩm được bán giá rất ưu đãi, thường xuyên có những chương trình khuyến mãi hấp dẫn. • Giao hàng nhanh, phí ship hàng lại rẻ.
• Thêm tính năng đặc biệt mà chưa có trang thương mại điện tử nào có đó là chức năng người mua có thể trả giá sản phẩm với người bán thông qua chuyên mục chat với người bán. • Chức năng thanh toán bằng Shopee xu rất tiện dụng. Hạn chế • Đổi hàng thì bên mua phải chịu mất thêm phí ship. • Không cho đặt hàng hộ.
• Vì thêm tính năng chat với shop nên xảy tình trạng bên mua tranh cãi với shop về chất lượng hàng không giống như quảng cáo. • Shopee rất khó có thể kiểm soát nguồn hàng của người bán trên nền tảng của mình. Ở Việt Nam không thiếu các trường hợp người bán hàng kém chất lượng đã để lại thiệt hại nặng nề cho các doanh nghiệp thương mại điện tử.3 Người ảnh hưởng (Influencers) và tác động của họ đến quyết định mua của Gen Z a. Khái niệm Theo Brown & Hayes: Influencer (Người ảnh hưởng) là bên thứ ba có tác động đáng kể đến quyết định mua của khách hàng và có thể phải chịu trách nhiệm về những ảnh hưởng đó.
Theo Scott, marketing dựa vào người ảnh hưởng là một chiến lược tiếp thị sử dụng ảnh hưởng của các cá nhân hoặc nhà lãnh đạo để thúc đẩy nhận thức về thương hiệu của người tiêu dùng và quyết định mua hàng của họ. Freberg và cộng sự đã mô tả những người có ảnh hưởng trên phương tiện truyền thông xã hội đóng vai trò như là một bên thứ ba, có thể chứng thực một cách độc lập và định hình thái độ của khán giả thông qua blog, tweet và các phương tiện truyền thông xã hội. Trong hoạt động marketing ngày nay, những người có ảnh hưởng đóng một vai trò rất quan trọng, đồng thời sự công nhận của họ đang tăng lên nhanh chóng [3] 15 4 0 b.