Chương 1, tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu “ Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Đồng Nai”, nêu ra mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và đóng góp của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN ĐẾN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN TIẾT KIỆM CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG 2. Cơ sở lý thuyết về tiền gửi tiết kiệm 2. Khái niệm Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền gửi tại ngân hàng của những người muốn tích lũy một khoản tiền cho những mục tiêu hay những nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai và đồng thời cũng muốn hưởng thu nhập lãi từ khoản tiền gửi này (Peter S.
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào ngân hàng, được hưởng lãi theo quy định của ngân hàng và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền tạm thời chưa sử dụng hoặc tiền tích lũy của cá nhân được gửi tại ngân hàng nhằm mục đích kiếm lợi tức (Lê Văn Tư, 2005). Từ những khái niệm trên, tác giả đưa ra khái niệm như sau: Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền tạm thời chưa sử dụng hoặc là tiền tích lũy của cá nhân được gửi tại ngân hàng nhằm mục đích an toàn tài sản và hưởng thu nhập lãi từ khoản tiền gửi này. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm - Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm: là cá nhân.
- Nguồn tiền: là khoản tiền tạm thời chưa sử dụng hoặc tiền tích lũy của cá nhân. - Mục đích: Người gửi tiền tiết kiệm gửi tiền tại ngân hàng nhằm hai mục đích chính là đảm bảo an toàn tài sản và hưởng thu nhập lãi từ khoản tiền gửi này. - Loại hình tiền gửi: Tiền gửi tiết kiệm thuộc loại tiền gửi phi giao dịch. Tức là, khoản tiền này không được dùng cho dịch vụ thanh toán qua ngân hàng.
- Lãi suất: Lãi suất áp dụng cho các khoản tiền gửi tiết kiệm thường là lãi suất cố định và thường cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch. Tùy theo nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng mà ngân hàng áp dụng mức lãi suất phù hợp với kỳ hạn 6 của khoản tiền gửi; Tuy nhiên, để đảm bảo theo lý thuyết giá trị của tiền theo thời gian và theo mối quan hệ tỷ lệ thuận trong đường cong thu nhập thì thông thường tiền gửi có kỳ hạn càng dài sẽ được áp dụng mức lãi suất càng cao. - Tính ổn định: Đây là loại tiền gửi có tính ổn định, ít biến động. - Tính chuyển nhượng: Có loại có thể chuyển nhượng hoặc không thể chuyển nhượng tùy theo từng sản phẩm tiền gửi tiết kiệm cụ thể.
Phân loại tiền gửi tiết kiệm Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), có 2 loại tiền gửi tiết kiệm được phân theo kỳ hạn gửi là Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi tiết kiệm với thời gian không xác định, người gửi tiền có thể gửi vào và rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần báo trước cho ngân hàng. Ngân hàng trả lãi cho loại tiền gửi này nhưng rất thấp. Loại tiền gửi này gần giống với tiền gửi không kỳ hạn, nhưng có những điểm khác là nó luôn được hưởng lãi và không được dùng cho các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng.
Vì vậy, tiền gửi tiết kiệm dạng này không nhằm mục đích chính là để sử dụng dịch vụ thanh toán, mà mục đích chính là nhằm đảm bảo an toàn tài sản và dự phòng cho các nhu cầu chi tiêu trong thời gian ngắn đồng thời vẫn được hưởng lãi. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm có sự thỏa thuận giữa người gửi tiền và ngân hàng về thời gian rút tiền; Nghĩa là, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định đã thoả thuận với ngân hàng. Lãi suất của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là lãi suất cố định và được đảm bảo theo lý thuyết giá trị của tiền theo thời gian và theo mối quan hệ tỷ lệ thuận trong đường cong thu nhập nên tiền gửi có kỳ hạn càng dài sẽ được áp dụng mức lãi suất càng cao. Tuy nhiên, việc thỏa thuận mức lãi suất cho các kỳ hạn khác nhau còn phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng trong từng thời kỳ.
Đây là loại tiền gửi phi giao dịch nên khoản tiền này không được dùng cho dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, và mục đích chính của người gửi tiền gửi tiết kiệm là đảm bảo an toàn tài sản và hưởng thu nhập lãi từ khoản tiền gửi này. 7 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thực chất là một khoản tiền vay giữa ngân hàng với người gửi tiền, có thỏa thuận thống nhất về số tiền gửi, kỳ hạn và lãi suất cụ thể. Nên, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn phải đảm bảo những nguyên tắc sau: - Về phía người gửi tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: đối với một khoản tiền gửi tiết kiệm đã có thỏa thuận thống nhất về kỳ hạn, người gửi tiền chỉ được gửi tiền vào một lần và rút tiền gốc ra một lần khi đến hạn, và cũng không cho phép bổ sung thêm vào số tiền đã gửi khi chưa đến hạn. Mỗi một khoản tiền gửi là riêng biệt.
Mức tiền gửi tối thiểu của mỗi lần gửi do từng ngân hàng quy định. - Về phía ngân hàng: về nguyên tắc, ngân hàng có quyền từ chối yêu cầu rút khoản tiền gửi này trước hạn; Song trên thực tế, các ngân hàng thường cho người gửi được rút bất kỳ lúc nào trước khi đến hạn, nhưng những trường hợp này người gửi tiền sẽ không được hưởng mức lãi suất như đã thỏa thuận thống nhất mà ngân hàng chỉ trả lãi với mức lãi suất của tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, hoặc thậm chí là không được hưởng lãi xem như hình thức phạt vì đã làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Có 2 hình thức ghi nhận và theo dõi khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: - Hình thức truyền thống là Tiết kiệm lập sổ: Theo hình thức này, người gửi tiết kiệm sẽ được cấp một quyển sổ mỏng ghi nhận số dư tài khoản, thu nhập lãi, số tiền gửi và một số quy định ràng buộc cả hai bên. Quyển sổ này có giá trị như một chứng thư xác nhận về khoản tiền đã gửi.
- Hình thức Tài khoản tiết kiệm thông báo: là tài khoản tiền gửi tiết kiệm được ghi nhận trên máy vi tính, người gửi tiền có thể tra cứu thống kê thể hiện số tiền gửi, lãi, và số dư tài khoản,. Vai trò của tiền gửi tiết kiệm Theo Lê Văn Tư (2005) và Nguyễn Văn Tiến (2015), vai trò của tiền gửi tiết kiệm được thể hiện ở 3 đối tượng sau: - Đối với người gửi tiền tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm cung cấp cho người gửi tiền một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác, tiền gửi tiết kiệm còn cung cấp cho người gửi tiền một nơi an toàn để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. 8 - Đối với các NHTM: tiền gửi nói chung và tiền gửi tiết kiệm nói riêng là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của các NHTM.
Tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm được các NHTM dùng một phần để dự trữ bắt buộc, phần còn lại được dùng cho hoạt động cho vay. Vì vậy, có thể nói tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm là cơ sở chính của các khoản cho vay, là yếu tố đầu vào của các NHTM; Do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của các NHTM. Mặt khác, thông qua khả năng thu hút tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm, ngân hàng có thể đo lường được mức độ uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng gửi tiền đối với ngân hàng. Nói cách khác, tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm là thước đo quan trọng về sự chấp nhận của công chúng đối với ngân hàng.
Cũng vì vậy mà nó trở thành động lực chính để các NHTM không ngừng hoàn thiện để nâng cao uy tín, xây dựng thương hiệu ngày càng vững mạnh. Mặt khác, tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn của thị trường 1 có vai trò ổn định và an toàn cho thanh khoản của hệ thống ngân hàng. - Đối với nền kinh tế: Huy động tiền gửi tiết kiệm đóng vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình tích tụ vốn - tái đầu tư qua các kênh tài chính và sản xuất, tạo công ăn việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thông qua chức năng trung gian tài chính của NHTM, nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi được điều tiết từ các chủ thể gửi tiết kiệm sang các chủ thể có nhu cầu về nguồn vốn kinh doanh.
Tài chính trong nền kinh tế vì thế được phân phối hợp lý và hiệu quả hơn. Tiền gửi tiết kiệm ngân hàng là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội đất nước. Lý thuyết hành vi hợp lý, hành vi người tiêu dùng và hành vi sử dụng dịch vụ tài chính 2. Lý thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) Lý thuyết hành vi hợp lý được phát triển lần đầu bởi Fishbein (1967), sau đó đã được sửa đổi và mở rộng bởi Ajzen và Fishbein (1975).
Theo lý thuyết này, các cá nhân có cơ sở và động lực trong quá trình ra quyết định của họ và đưa ra một sự lựa chọn hợp lý giữa các giải pháp, công cụ tốt nhất để phán đoán hành vi của một người là ý định và hành vi được xác định bởi ý định thực hiện hành động (BI). Ý định thực hiện hành vi (BI) sẽ chịu ảnh hưởng bởi thái độ đối với hành vi và các chuẩn mực chủ quan hành vi. 9 Niềm tin về kết quả hành động Thái độ Đánh giá kết quả hành động Ý định Hành vi hành vi Niềm tin vào tiêu chuẩn của người xung quanh Tiêu chuẩn chủ quan Động lực để tuân thủ những người xung quanh Sơ đồ 2.