chương 1, tác giả giới thiệu tổng quát về cơ sở hình thành đề tài, sau đó đã xác định được mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề cương, cuối cùng là ý nghĩa của việc nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Đây là phần khái quát đến những nội dung liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu. Chương này làm tiền đề để thực hiện việc nghiên cứu ở nội dung tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Một số khái niệm chính liên quan 2. Khái niệm về Tiền gửi tiết kiệm Theo quy định của Ngân hàng nhà nước (2017) thì Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Người gửi tiền tiết kiệm là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm hoặc là người giám hộ hoặc đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng sở hữu gửi tiết kiệm. Chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm.
Đồng sở hữu tiền gửi tiết kiệm là hai cá nhân trở lên cùng đứng tên trên thẻ tiết kiệm. Giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm là giao dịch gửi, rút tiền gửi tiết kiệm và các giao dịch khác liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Tài khoản tiền gửi tiết kiệm là tài khoản đứng tên một cá nhân hoặc một số cá nhân và được sử dụng để thực hiện một số giao dịch thanh toán. Thẻ tiết kiệm là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng thời chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm về khoản tiền đã gửi tại tổ chức nhận tiền gửi.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Kỳ hạn gửi tiền là khoảng thời gian kể từ ngày người gửi tiền bắt đầu gửi tiền vào tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đến ngày tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm cam kết trả tiền gốc và lãi tiền gửi tiết kiệm. Đặc điểm của Tiền gửi tiết kiệm 2.
Đa dạng và phong phú các loại hình dịch vụ Như đã biết, các kênh huy động truyền thống có danh mục sản phẩm rất đa dạng nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng, đồng thời để phân tán rủi ro. Tiền gửi tiết kiệm có rất nhiều loại sản phẩm: như tiết kiệm trả lãi trước, tiết kiệm trả lãi sau, tiết kiệm linh hoạt, tiết kiệm gửi góp….Ở giai đoạn phát triển cao nhất, tiền gửi tiết kiệm được tích hợp vô ngân hàng điện tử có thể giúp khách hàng có thể gửi và sử dụng sản phẩm bất kỳ nơi đâu dễ dàng và thỏa mãn được tất cả những nhu cầu riêng biệt của khách hàng mà không cần phải ra ngân hàng làm thủ tục. Các sản phẩm này cũng hết sức đa dạng và phong phú. Tiền gửi tiết kiệm sinh lãi suất Lãi suất chính là yếu tố then chốt để thu hút các khách hàng trong vấn đề gửi tiết kiệm.
Hiện nay, nhìn chung các ngân hàng đều duy trì mức lãi suất trung bình 6.5% cho kì hạn 12 tháng. Nếu bạn gửi tiết kiệm một thời gian đủ dài thì cũng sẽ nhận lại được một khoản kha khá. Lãi suất tiết kiệm bao gồm hai loại đó là lãi suất có kỳ hạn (áp dụng với hình thức tiết kiệm có kỳ hạn) và lãi suất không kỳ hạn (áp dụng với tiết kiệm không kỳ hạn). Lãi suất không kỳ hạn thông thường sẽ thấp hơn lãi suất có kỳ hạn.
Nhìn chung, lợi nhuận bạn thu lại từ tiết kiệm không cao nhưng đảm bảo ổn định và ít rủi ro so với một số ngành đầu tư khác như là chứng khoán, bất động sản. Tiền gửi tiết kiệm được quản lý thông qua sổ tiết kiệm Sổ tiết kiệm là một trong những vật dụng thường thấy của ngân hàng nhằm quản lý tài khoản tiết kiệm của bạn. Do đó người dùng phải có trách nhiệm bảo quản số tiết kiệm này cho thật tốt. Bạn cũng nên thường xuyên kiểm tra về các thông tin cá nhân, số tiền tiết kiệm ghi trên sổ để phòng chắc chắn.
Tiền gửi tiết kiệm ổn định, an toàn Nhìn chung, gửi tiết kiệm là một hình thức đầu tư khá an tâm. Gửi tiết kiệm không quá nhiều khắt khe, quy định như là đóng bảo hiểm, nhưng cũng đủ đem 7 lại cho bạn sự yên tâm khi có khoản tiền gửi từ ngân hàng. Đây là cách gửi tiền nhanh chóng, đơn giản cho những ai không muốn để tiền “chết” một chỗ. Quy định về thẻ tiết kiệm Thẻ tiết kiệm phải có đầy đủ các yếu tố sau: Tên tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm, loại tiền, số tiền, kỳ hạn gửi tiền, ngày gửi tiền, ngày đến hạn thanh toán (đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn), lãi suất, phương thức trả lãi, thời điểm trả lãi, địa điểm thanh toán tiền gốc và lãi.
Họ và tên, địa chỉ của chủ thể gửi tiết kiệm của đồng sở hữu tiền gửi tiết kiệm, số CMND hoặc hộ chiếu của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng sở hữu tiền gửi tiết kiệm (trường hợp chủ sở hữu, đồng sở hữu tiền gửi tiết kiệm chưa đến tuổi được cấp CMND hoặc hộ chiếu). Họ tên, địa chỉ và số CMND hoặc hộ chiếu của người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật (chỉ áp dụng dối với trường hợp người gửi tiền là người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật). Số thẻ, con dấu, chữ ký của Tổng giám đốc (Giám đốc) tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm hoặc người được Tổng giám đốc (Giám đốc) ủy quyền, chữ ký của giao dịch viên của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Quy định về chuyển quyền sở hữu, cầm cố thẻ tiết kiệm tại chính tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm, xử lý đối với các trường hợp rủi ro.
Các nội dung, ghi chú khác của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Địa điểm nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm Đối với mỗi thẻ tiết kiệm, tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm được phép nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch nơi cấp thẻ hoặc địa điểm giao dịch khác của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Trường hợp thực hiện việc nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm đối với mỗi thẻ tiết kiệm tại nhiều địa điểm giao dịch, tổ chức nhận tiền gửi phải có các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ và trình độ cán bộ để đảm bảo tiện lợi, chính xác, bí mật, an toàn tài sản cho người gửi tiền và an toàn hoạt động cho tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Lãi suất và phương thức trả lãi Tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm quy định mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm phù hợp với lãi suất huy động trên thị trường, đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh và an toàn hoạt động cho tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm được quy định trên cơ sở tháng (30 ngày) hoặc năm (365 ngày). Phương thức trả lãi do tổ chức nhận tiền tiền gửi quy định có thể là trả lãi trước, trả lãi sau hoặc trả lãi định kỳ. Hình thức gửi tiền tiết kiệm Hình thức gửi tiền tiết kiệm phân loại theo kỳ hạn gửi tiền gồm gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn hoặc gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn. Kỳ hạn gửi tiền tiết kiệm cụ thể do tổ chức nhận tiền gửi quy định.
Hình thức gửi tiết kiệm phân loại theo các tiêu chí khác do tổ chức nhận tiền gửi quy định. Thủ tục gửi tiền tiết kiệm Quy trình giao dịch sử dụng trong quy trình rút, gửi tiền mặt của TMCP Sài Gòn là quy trình giao dịch một cửa. Đây là mô hình cho phép GDV vừa thực hiện giao dịch với khách hàng, vừa ghi sổ kế toán và vừa thu chi tiền trong hạn mức quy định. Quy trình gửi tiền tiết kiệm: Bước 1 → Bước 2 → Bước 3 → Bước 4 Khách hàng GDV KSV GDV - Điền chứng từ - Thu tiền - Duyệt trên hệ - Gửi sổ tiết kiệm/ - Giao tiền cho - Nhập liệu vào hệ thống chứng chỉ tiền gửi GDV thống - Ký sổ tiết kiệm/ cho khách hàng - Xác thực giao dịch chứng chỉ tiền gửi - In phiếu 2.
Khái niệm về ý định hành vi Venkatesh và cộng sự (2003) định nghĩa rằng ý định hành vi là khả năng người tiêu dùng sẽ sử dụng một sự đổi mới. Với ý định hành vi cao hơn, người 9 tiêu dùng sẽ có nhiều khả năng sử dụng một công nghệ mới. Có một số tiền đề có thể ảnh hưởng đến ý định hành vi của một cá nhân. Còn theo Ajzen, (1991) ý định được xem là “bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi”.
Ajzen (1991) cho thấy hành vi đó bị ảnh hưởng bởi sự tự tin của một người về khả năng của mình để thực hiện hành vi. Do đó, hành vi bị ảnh hưởng bởi kiểm soát hành vi nhận thức và ý định cũng như thái độ, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức hành vi kiểm soát hành vi hành vi gián tiếp thông qua ý định (Ajzen, 1991). Có hai lý do cơ bản cho đường dẫn trực tiếp từ kiểm soát hành vi nhận thức đến hành vi thực tế. Thứ nhất, nếu ý định được giữ cố định, nỗ lực cần thiết để thực hiện hành vi này có thể sẽ tăng lên khi kiểm soát hành vi.
Ví dụ, nếu hai người có ý định mạnh mẽ như nhau để tìm hiểu làm thế nào họ có thể sử dụng dịch vụ ngân hàng qua internet và nếu cả hai đều cố gắng làm như vậy thì người có thể tin tưởng rằng họ có thể nắm vững hoạt động này có nhiều khả năng sử dụng dịch vụ ngân hàng qua internet hơn là một người nghi ngờ khả năng của mình.