CHƯƠNG 1 Đầu tiên, tác giả trình bày về tính cấp thiết của đề tài. Theo đó, tác giả nhận thấy sự gia tăng của xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt trong những năm gần đây tại Việt Nam. Lựa chọn đề tài nghiên cứu về ý định sử dụng thẻ tín dụng, tác giả muốn tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng trong bối cảnh nghiên cứu hiện tại, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp gia tăng ý định sử dụng của người tiêu dùng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. Tiếp theo, tác giả trình bày các nội dung về mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để định hướng các vấn đề cần giải quyết cũng như các công việc cần thực hiện trong quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng, tác giả trình bày kết cấu nội dung của đề tài nghiên cứu nhằm phân bổ khối lượng nội dung nghiên cứu theo các chương mục của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày các vấn đề cơ bản của thẻ tín dụng, tổng quan học thuật lĩnh vực nghiên cứu và khảo lược các công trình về lý thuyết cũng như công trình về thực nghiệm đã được thực hiện trước đây. Tổng quan về thẻ tín dụng 2. Khái niệm thẻ tín dụng Thẻ tín dụng (TTD) được biết đến như một phương tiện thanh toán được sử dụng phổ biến hiện nay.
Nhiều nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về TTD, một trong số đó được đề cập tại giáo trình về hoạt động ngân hàng như sau: "Thẻ tín dụng do ngân hàng phát hành là một hình thức của việc cho vay. Thẻ tín dụng cho phép người tiêu dùng thanh toán tất cả hoặc một phần hóa đơn của họ mỗi tháng và hỗ trợ chi trả cho số dư chưa thanh toán của họ". Ta có thể hiểu rằng TTD là một hình thức cho vay ngắn hạn của ngân hàng, tuy nhiên khác với các hình thức cho vay thông thường, phương thức này cho phép người tiêu dùng truy cập và thanh toán khoản vay một cách linh hoạt. Tại Việt Nam, khái niệm TTD được tác giả Nguyễn Đăng Dờn (2014, trang 331) khái quát khá đầy đủ và cụ thể trong giáo trình về nghiệp vụ ngân hàng thương mại.
Theo đó, TTD là phương tiện do Ngân hàng phát hành cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận. Đây là một hình thức tín dụng tiêu dùng có một hạn mức tín dụng nhất định mà chủ thẻ có thể vay toàn bộ hoặc một phần. Có hai loại TTD, đó là: (1) TTD nội địa: chỉ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ được cấp trong phạm vi quốc gia và (2) TTD quốc tế: khách hàng được sử dụng thẻ trên phạm vi toàn thế giới. Ngoài ra, theo quy định được cập nhật gần nhất của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định tại Khoản 3 Điều 3 của "Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-NHNN" vào năm 2021, khái niệm TTD được định nghĩa như sau: "Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được 7 cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ".
Có thể hiểu rằng, người tiêu dùng không thể sử dụng vô hạn khoản vay từ các tổ chức mà chỉ có thể sử dụng trong một phạm vi hạn mức đã thoả thuận với tổ chức phát hành TTD. Tóm lại, khi khách hàng giao dịch bằng TTD, ngân hàng sẽ chi trả trước số tiền cần thanh toán cho người bán trong một phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận. Bằng cách đăng ký dùng TTD, chủ thẻ đồng ý trả lại số tiền này, cộng với mọi khoản lãi hoặc phí tài chính tích lũy trên số tiền nợ cho đến khi tất toán các chi phí. Lịch sử hình thành Về nguồn gốc, tiền thân của TTD là thẻ Diners Club được phát minh vào năm 1950.
Ý tưởng này đến từ Frank McNamara, một doanh nhân đã để quên ví khi đi ăn tối ở New York. Ông và đối tác kinh doanh của mình là Ralph Schneider đã sớm phát minh ra thẻ Diners' Club như một cách thanh toán không cần mang theo tiền mặt, bắt đầu kỷ nguyên mới của TTD. Khác với những người tiền nhiệm của nó, Diners' Club không bán hàng mà cung cấp các dịch vụ tín dụng và thu nợ cho các thành viên tham gia, giúp cho các nhà bán lẻ có thể mua số lượng lớn hàng hóa mà không cần có sự sắp xếp trước với từng thương gia. (Bergsten, 1967, trang 485) Các chương trình TTD khác cũng bắt đầu tương tự bởi American Express và Carte Blanche, nhưng do chi phí vận hành các chương trình này khá cao nên thẻ chỉ được phát hành cho một số cá nhân và doanh nghiệp có khả năng chi trả các giao dịch đắt tiền.
Vào cuối những năm 1960, công nghệ máy tính được cải tiến giúp giảm thiểu chi phí phát hành TTD. Các ngân hàng một lần nữa tham gia kinh doanh TTD và tạo ra hai chương trình thành công: BankAmericard (ban đầu do Bank of America khởi xướng nhưng giờ đây là một tổ chức độc lập có tên là Visa) và MasterCharge (nay là MasterCard, được điều hành bởi Hiệp hội thẻ liên ngân hàng). TTD ngân hàng cũng mang lại nhiều lợi nhuận đến mức các tổ chức phi tài chính như Sears đã tung ra thẻ Discover. (Mishkin, 2015, trang 285) 8 Tại Việt Nam, những chiếc thẻ ATM đầu tiên được triển khai trong một dự án do Ngân hàng Nhà nước Việt nam chủ trì từ năm 1996.
Vào thời điểm đó, số lượng ATM ở Việt nam còn khá ít, tổng cộng chỉ vài chục chiếc, thẻ ATM phát hành chủ yếu cho cán bộ ngân hàng là chính. Từ năm 2001, nhờ vào việc ứng dụng công nghệ thông tin, thị trường thẻ thanh toán Việt Nam bắt đầu phát triển, đến cuối năm 2005, ở Việt Nam đã có khoảng 2,7 triệu thẻ thanh toán các loại được phát hành, bao gồm TTD. (Đặng Mạnh Phổ, 2006) Nhìn chung, TTD và những đại diện của nó đã được xem là các hình thức thanh toán phổ biến trong hàng trăm năm theo thời kỳ lịch sử. Khi công nghệ và thương mại đổi mới và phát triển, cách thức hoạt động và quản lý của TTD cũng thay đổi.
Trong những năm gần đây, TTD đã dần trở thành công cụ thanh toán phổ biến trong xã hội, đồng thời số lượng người dùng TTD tại Việt Nam cũng đang gia tăng đáng kể. Cùng với việc này, các ngân hàng và tổ chức phát hành thẻ gần như đều triển khai sản phẩm TTD đi kèm với đa dạng các chính sách và chương trình kích thích người tiêu dùng thanh toán bằng TTD. Đặc điểm sử dụng thẻ tín dụng Trước sự bùng nổ của thanh toán không sử dụng tiền mặt, thẻ ngân hàng đóng vai trò là công cụ thanh toán quan trọng trong xã hội. Cùng với đặc điểm sử dụng là truy cập vào số tiền trong tài khoản để thanh toán, các tổ chức phát hành hiện nay cung cấp nhiều tiện ích thẻ đáp ứng các mục đích của người tiêu dùng.
Theo đó, TTD có những đặc điểm sử dụng như sau: - Điều kiện đăng ký: khách hàng cần đáp ứng các điều kiện về hồ sơ và quy trình của các tổ chức phát hành thẻ trước khi được xét duyệt cấp TTD, quá trình này thường cần nhiều thời gian để hoàn thiện. - Hạn mức thẻ: đây là số tiền tối đa mà chủ TTD có thể dùng để chi tiêu qua thẻ. (Arnold, 2008, trang 304) - Thời kỳ ân hạn: đây là khoảng thời gian quy định mà ngân hàng sẽ không tính lãi suất trên số dư nợ của khách hàng. (Arnold, 2008, trang 307) 9 - Lãi suất: đây là tỷ lệ phần trăm tính trên số tiền vay cho việc sử dụng số tiền đó, số tiền này còn được gọi là chi phí tài chính.
(Arnold, 2008, trang 309) - Phí thường niên: đây là mức phí sử dụng thẻ được tính trực tiếp vào tài khoản TTD của khách hàng hàng năm. (Arnold, 2008, trang 301) - Phí vượt hạn mức: khi sử dụng thẻ vượt quá hạn mức tín dụng được cấp. (Arnold, 2008, trang 311) - Phí phạt thanh toán chậm: đây là một khoản phí bị tính khi chủ thẻ không đáp ứng việc thanh toán dư nợ đúng hạn. (Arnold, 2008, trang 310) - Phí tạm ứng tiền mặt: đây là khoản phí bị tính khi khách hàng dùng TTD khi giao dịch tạm ứng một khoản tiền mặt.
(Arnold, 2008, trang 303) - Điểm tín dụng cá nhân: đây là số điểm khách hàng nhận được dựa trên hệ thống tính điểm xác định mức độ tin cậy về khả năng trả nợ theo khoảng điểm từ 300-850. (Arnold, 2008, trang 305) Nhìn chung, ngoài việc dùng TTD để thanh toán trước các hoá đơn tại các đơn vị chấp nhận thẻ, khách hàng có thể dùng TTD để tạm ứng một khoản tiền mặt tại các đại lý thanh toán hoặc các máy rút tiền tự động. Bên cạnh đó, khách hàng có một khoảng thời gian ân hạn không lãi suất để hoàn trả số tiền nợ. Bằng cách dùng TTD hợp lý, khách hàng có thể xây dựng điểm tín dụng cá nhân tốt, việc này sẽ mang đến nhiều lợi ích trong tương lai khi khách hàng có nhu cầu cấp tín dụng hoặc nâng hạn mức TTD.
Tuy nhiên, nếu không sử dụng TTD hợp lý, khách hàng có khả năng phải chịu nhiều khoản phí phạt và chi phí tài chính. Lợi ích của thẻ tín dụng Có thể thấy rằng TTD ngày càng được nhiều người lựa chọn trở thành công cụ thanh toán ưa thích bởi những tiện ích nó mang lại trong công việc và cuộc sống. Bên cạnh những ưu điểm đối với người tiêu dùng, TTD còn mang lại nhiều lợi ích cho các tổ chức kinh doanh, phát hành thẻ cũng như xã hội và nền kinh tế. Theo đó, một số lợi ích nổi bật của TTD có thể kể đến là: 10 - Thuận tiện mua hàng: TTD cho phép khách hàng mua chịu theo thời gian, địa điểm và số lượng mà không cần mang theo tiền mặt cũng như cung cấp phương thức thanh toán thuận tiện cho các giao dịch mua được thực hiện trên internet, điện thoại, ATM,.
(Sorournejad và cộng sự, 2016, trang 2) - Lưu giữ lịch sử tín dụng của khách hàng: Lịch sử này không những có giá trị đối với TTD mà còn đối với các dịch vụ tài chính như khoản vay, đơn xin thuê nhà hoặc thậm chí một số công việc. Người cho vay và người phát hành của các công ty thế chấp tín dụng và cửa hàng bán lẻ có thể xem lịch sử và điểm tín dụng của khách hàng để xem họ có trả nợ đúng hạn và có trách nhiệm như thế nào.