Chương 1 đã trình bày tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Những nội dung này tạo tiền đề cho cho việc hình thành cơ sở lý luận cho các chương tiếp theo. Chương 2 sẽ đi sâu hơn vào cơ sở lý thuyết, các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Từ đó xây dựng và đề xuất mô hình nghiên cứu.
6 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứư 2.1 Một số khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm về ỷ định Theo Blackwell và cộng sự (2001), ý định là “một yếu tố quan trọng quyết định khả năng của một cá nhân để thực hiện một hành động trong tương lai”. Còn Akbar và cộng sự (2014) cho rằng ý định là “mục đích cụ thể của người tiêu dùng khi thực hiện một hành động hoặc một chuỗi hành động”. Ý định được hình thành thông qua ba yếu tố, bao gồm “niềm tin về hành vi, niềm tin về chuẩn mực và niềm tin về sự kiểm soát”. Neu những niềm tin này được tăng lên thì ý định hành động cũng sẽ tăng lên (Ajzen, 2002).2 Mua sắm trực tuyến 2.1 Khái niệm mua sắm trực tuyến Theo Monsuwe và cộng sự (2004), mua sấm trực tuyến là “hoạt động mà người tiêu dùng mua một sản phẩm thông qua các cửa hàng trực tuyến hoặc các trang web thương mại điện tử trên internet”.
Mua sắm trực tuyến thường liên quan đến việc đánh giá, tìm kiếm hoặc xem thông tin về các sản phẩm trên internet để đưa ra quyết định mua hàng tốt hơn (Kim và cộng sự, 2004). Theo Mastercard Worldwide Insights (2008), mua sấm trực tuyến là “mua hằng hóa và dịch vụ từ người bán trực tuyến”. Mua sắm trực tuyến còn được biết đến với các tên gọi khác như: mua sắm qua mạng, mua sắm online, mua sắm qua internet, mua sắm điện tử, mua hàng trực tuyến. Nhìn từ một góc độ khác, mua sắm trực tuyến là sự trao đổi thời gian, năng lượng và tiền bạc để có được một sản phẩm hoặc dịch vụ (Chiu và cộng sự, 2009).2 So sánh mua sắm trực tuyến và mua sắm truyền thống Điểm giống nhau: Theo nhóm tác giả Comegys và cộng sự (2006); Darley và cộng sự (2010); Yõriik và cộng sự (2011), mua sắm trực tuyến và mua sắm truyền thống giống nhau ở chỗ đều trải qua 05 bước cơ bản, bao gồm: 1) Xác định nhu cầu, 2) Tìm kiếm thông tin về sản phẩm, 3) Đánh giá các lựa chọn thay thế, 4) Quyết định mua, 5) Đánh giá sau khi mua.
7 Điểm khác nhau: Theo Nguyễn Thành Độ và Hà Ngọc Thắng (2014), mua sắm trực tuyến và mua sắm truyền thống khác nhau ở một số điểm sau: - Đầu tỉên là: Các điều kiện kỹ thuật mà khách hàng phải có để giao dịch. - Thứ hai là: Cách tiếp cận khách hàng của người bán. - Thứ ba là: Cách khách hàng và người bán/nhân viên bán hàng tương tác với nhau. - Thứ tư là: Đánh giá sản phẩm trước khi mua.
- Thứ năm là: Khả năng tiếp cận các điểm bán hàng tại một thời điểm cụ thể.23 Lợi ích của mua sắm trực tuyến Những lợi ích của mua sắm trực tuyến bao gồm: - Một là: Sự thuận tiện (Morganosky và Cude, 2000; Lester và cộng sự, 2005). - Haỉ là: Tiết kiệm thời gian (Morganosky và Cude, 2000; Abbad và cộng sự, 2011). - Ba là: Khả năng mua hàng với giá rẻ hơn (Elliot và Fowell, 2000; Lester và cộng sự, 2005; Choi và Park, 2006). - Bốn là: Khách hàng có nhiều loại sản phẩm để lựa chọn (Monsuwe và cộng sự, 2004).
- Năm ỉà: Khách hàng không bị người bán hoặc nhân viên bán hàng gây sức ép (Lester và cộng sự, 2005; Khatibi và cộng sự, 2006). - Sáu là: Trước khi quyết định mua hàng khách hàng có thể tham khảo ý kiến của người khác một cách dễ dàng (Trần Minh Đạo, 2010; Hsu và cộng sự, 2013).4 Hạn chế của mua sắm trực tuyến Một số hạn chế của mua sắm trực tuyến: - Khách hàng không được xem và dùng thử sản phẩm trước khi mua (Lester và cộng sự, 2005). - Mua sắm qua mạng thường gặp rủi ro cao (Laroche và cộng sự, 2005). - Thiếu tương tác xã hội (Liebermann và Stashevsky, 2002; Doolin và cộng sự, 2005).
8 - Quá trình giao hàng chậm hon dự kiến ban đầu (Lester và cộng sự, 2005). - Giá thành vận chuyển cao (Lester và cộng sự, 2005).5 Quy trình mua sắm trực tuyến Theo Trần Thị Thập (2018), một quy trình mua sắm qua mạng cơ bản gồm 10 bước: Bước 1: Khách hàng vào website của gian hàng trực tuyến. Bước 2: Khách hàng lựa chọn sản phẩm trên website, trên mỗi sản phẩm đều có thông tin về giá, nội dung và thông số của sản phẩm, nếu đồng ý mua thì nhấn “Thêm vào giỏ hàng”. Bước 3: Khách hàng nhập tên, địa chỉ nhận hàng, thông tin thanh toán và lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp với mình.
Bước 4: Khách hàng kiểm tra thông tin đơn hàng. Đơn hàng hiển thị trên màn hình có đủ các thông tin về loại hàng, số lượng mua, giá, thuế, phí vận chuyển,.nếu đồng ý thì nhấn “Đồng ý mua”. Bước 5: Xác nhận thanh toán. Thông tin thanh toán được mã hóa và gửi cho bên thứ ba (trung gian thanh toán) để kiểm tra tính xác thực và khả năng thanh toán.
Nếu khách hàng đủ khả năng thanh toán, tiền sẽ được trừ trực tiếp từ tài khoản của người mua và chuyển tiền sang tài khoản của người bán. Bước 6: Người bán gửi thông báo đặt hàng thành công. Kết quả của trạng thái thanh toán được gửi đến máy chủ của người bán để xử lý việc chấp nhận đơn hàng hay không. Nếu thanh toán không được, thẻ điện tử sẽ hiển thị thông báo không chấp nhận.
Nếu đủ khả năng chi trả, thẻ điện tử hiển thị xác nhận đơn hàng để khách hàng lưu lại hoặc in ra làm bằng chứng sau này. Bước 7: Biên nhận về thông tin mua hàng và xác nhận đã thanh toán hoàn tất. Đơn hàng sẽ được gửi cho khách. Bước 8, 9, 10: Quá trình xử lý đơn hàng, hoàn tất đơn hàng do người bán thực hiện, hàng hóa sẽ được đóng gói và vận chuyển đến tay khách hàng.
Quy trình các bước mua sắm được trình bày chi tiết trong hình 2. 9 Hình 2 A Các bước trong quy trình mua sắm trực tuyến (Nguồn: Trần Thị Thập, 2018) 2J.3 Ý định mua sắm trực tuyến Hiện nay, các sản phẫm đáp irìig nhu cầu của khách hàng hầu hết được thực hiện thông qua hoạt động thương mại trên thị trường (Vũ Huy Thông, 2010). Theo Vũ Hưy Thông (2010), mua sắm là một quá trình trong đó người tiêu dùng đưa ra nhiều quyết định, thực hiện nhiều nhiệm vụ và chịu tác động của nhiều yếu tố. Quy trình mua sắm gồm năm bước chính là: nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin sản phẩm, đánh giá các phương án, quyết định mua hàng và đánh giá sau mua hàng (Blackwell và cộng sự, 2001; Comegys và cộng sự, 2006; Trần Minh Đạo, 2006).2 trình bày quá trình ra quyết định mua hàng trực tuyến theo Comegys và cộng sự (2006).2 Quá trình mua sắm trực tuyến (Nguồn: Comegys và cộng sự, 2006) 10 Xác định hay nhận biết nhu cầu là bước đầu tiên và quan trọng nhất (Blackwell và cộng sự, 2001).
Đó là khi người tiêu dùng cảm nhận được sự khác biệt giữa trạng thái hiện tại và trạng thái mong muốn của họ (Blackwell và cộng sự, 2001). Khỉ đạt đến ngưỡng nhu cầu, nhu cầu được xác định và ghi lại (Vũ Huy Thông, 2010). Sau khi xác định được nhu cầu, người tiêu dùng bắt đầu tìm kiếm thông tin về sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu đó (Blackwell và cộng sự, 2001). Quá trình truy xuất hay tìm kiếm thông tin có thể được thực hiện bên trong người tiêu dùng, từ môi trường bên ngoài hoặc cả hai (Blackwell và cộng sự, 2001).
Sau khi lấy được thông tin và xác định các lựa chọn sản phẩm, người tiêu dùng phải xử lý thông tin và đánh giá các lựa chọn thay thé để tìm ra phưong án tốt nhất cho nhu cầu của họ (Blackwell và cộng sự, 2001; Trần Minh Đạo, 2006). Sau khi đánh giá, người tiêu dùng sẽ có một danh sách các lựa chọn (ví dụ: mua gì, mua ở đâu?.) và sắp xếp chúng theo thứ tự ý định mua (Blackwell và cộng sự, 2001). Những sản phẩm có mục đích cao thường được người tiêu dùng lựa chọn mua nhiều nhất (Blackwell và cộng sự, 2001). Tuy nhiên, người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố từ bên ngoài và có thể chọn mua một sản phẩm khác với dự tính ban đầu (Blackwell và cộng sự, 2001).
Sau khi mua, người tiêu dùng sử dụng sản phẩm và sự hài lòng hay không hài lòng với sản phẩm sau khi sử dụng ảnh hưởng đến việc mua hàng trong tương lai của họ (Blackwell và cộng sự, 2001).4 Khái niệm về đặc sản truyền thong Theo Lưu Đức Thanh (2019), đặc sản truyền thống hay sản phẩm địa phương là “sản phẩm (hoặc các thành phần chính của sản phẩm) được sản xuất trong một khu vực địa lý nhất định và đồng nhất và các sản phẩm có đặc tính khác biệt đáng kể với các sản phẩm khác trên thị trường dựa trên những đặc trưng riêng của vùng sản xuất”. Những đặc điểm này phụ thuộc vào các yếu tố liên quan đến lãnh thổ như điều kiện địa lý, khí hậu, hay tập quán sản xuất truyền thống và tri thức bản địa. Người sản xuất làm chủ các khâu sản xuất, ché biến và phân phối các sản phẩm ra thị trường. Vì vậy, để xác định thế nào là đặc sản truyền thống, cần lưu ý ba điểm: sự khác biệt, gắn với vùng lãnh thổ và tri thức truyền thống.
Ngoài ra, đặc sản đòi hỏi nhà sản xuất phải xây dựng kênh bán hàng phù hợp để đưa sản phẩm ra thị trường. Theo Sautier, De Kop và Gerz (2006), đặc sản truyền thống là “những sản phẩm chỉ được sản xuất ở những khu vực địa lý nhất định, nơi tập quán sản xuất của con người 11 kết hợp với các yếu tố văn hóa, theo thời gian dài góp phần tạo nên những đặc tính sinh học riêng và độc đáo cho sản phẩm”. Do đặc thù về địa lý, uy tín và chất lượng nên các sản phẩm là đặc sản thường có giá trị gia tăng lớn hơn so với sản phẩm cùng loại thông thường. Giá trị này thuộc về cộng đồng đã sản xuất ra sản phẩm trong nhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ để phát triển thành một nghề mang lại lợi ích lâu dài, bền vững cho cộng đồng địa phương.