CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày sơ lược về lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cũng được chỉ rõ nhằm làm tiền đề cho các chương tiếp theo. Tiếp theo, chương 2 sẽ đi vào phần cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ 2.1 Bảo hiểm Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của một số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra.
Theo Wikipedia, bảo hiểm là một cách thức trong quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng,. Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá nhân sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm. Bảo hiểm là hình thức chuyển giao rủi ro. Mua bảo hiểm thực chất là mua sự an tâm, là đổi lấy cái sự không chắc chắn có khả năng xảy ra thiệt hại bằng sự chắc chắn thông qua việc bù đắp bằng tài chính.2 Bảo hiểm nhân thọ Theo Harriett E.
Long (1999) BHNT là một cách chuyển giao rủi ro và tích lũy tài chính bằng cách khi chủ hợp đồng bảo hiểm đồng ý tham gia vào bảo hiểm với công ty bảo hiểm, chủ hợp đồng bảo hiểm sẽ đóng góp một số phí cho công ty bảo hiểm, đổi lại công ty bảo hiểm đồng ý trả một khoản tiền nếu người được bảo hiểm (NĐBH) còn sống đến một thời gian theo quy định của hợp đồng. Còn Manulife cho rằng: BHNT là sản phẩm của các công ty bảo hiểm nhằm bảo vệ con người trước những rủi ro liên quan đến sức khỏe, thân thể, tính mạng. Đơn giản là người tham gia thỏa thuận và ký kết hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm về việc sẽ đóng đúng những khoản phí đều đặn vào quỹ dự trữ tài chính do công ty bảo 6 hiểm quản lý để được chi trả một số tiền bảo hiểm nhất định khi không may gặp rủi ro hoặc đến thời điểm đáo hạn. Nhưng trên thực tế BHNT là sự cam kết giữa công ty bán bảo hiểm và người mua bảo hiểm.
Theo đó, công ty bán bảo hiểm có trách nhiệm trả cho bên mua bảo hiểm (BMBH) một khoản tiền như đã cam kết khi NĐBH chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn hoặc còn sống đến một thời điểm ghi rõ trong hợp đồng (thời điểm này chính là thời gian đáo hạn của hợp đồng); còn người mua bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn.2 Đặc trưng của bảo hiểm nhân thọ Theo Phùng Đắc Lộc (2016), BHNT có 5 đặc trưng sau: 2.1 Vừa bảo vệ trước những rủi ro, vừa tích lũy tiết kiệm Bảo vệ NĐBH trước những rủi ro liên quan đến tính mạng, sức khỏe là đặc tính không thể thiếu được của các sản phẩm BHNT. Ngoài ra, BHNT còn mang đặc tính tiết kiệm. Đặc tính tiết kiệm được thể hiện bằng việc người mua bảo hiểm định kỳ đều đặn đóng một khoản tiền phí bảo hiểm. Nếu hết hợp đồng bảo hiểm mà NĐBH không gặp rủi ro, sự cố, sự kiện được bảo hiểm thì vẫn được chi trả quyền lợi bảo hiểm đúng như cam kết trong hợp đồng bảo hiểm.2 Số tiền được bảo hiểm không bị giới hạn BHNT không giới hạn số tiền được bảo hiểm, số tiền được bảo hiểm dựa theo lựa chọn của người mua bảo hiểm và được doanh nghiệp bảo hiểm chấp thuận nếu phù hợp với khả năng tài chính của người mua bảo hiểm.
Tuy nhiên, người mua bảo hiểm cũng cần lựa chọn sản phẩm bảo hiểm có số tiền được bảo hiểm phù hợp với điều kiện của bản thân để đảm bảo rằng mình có thể đóng phí đầy đủ, đúng hạn trong suốt thời hạn hợp đồng của bảo hiểm.3 Bảo hiểm nhân thọ thường là hợp đồng dài hạn Đặc điểm của BHNT là chấp nhận tích tụ rủi ro từ khi NĐBH còn trẻ đến hết thời hạn bảo hiểm hoặc suốt đời, do đó đây thường là hợp đồng dài hạn. Việc tích tụ rủi 7 ro được chia sẻ trong suốt thời gian được bảo hiểm và trong mọi đối tượng lứa tuổi được bảo hiểm.4 Sản phẩm bảo hiểm là bán lời cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm hay người được bảo hiểm theo điều khoản, điều kiện, cách thức, phương thức ghi trong hợp đồng bảo hiểm Lời cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm được ghi trong hợp đồng bảo hiểm, vì đây là những điều khoản do doanh nghiệp bảo hiểm soạn sẵn do đó để bảo vệ quyền lợi của BMBH Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Bảo vệ người tiêu dùng (NTD) cũng có các quy định buộc doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện. Theo đó, hợp đồng bảo hiểm và các văn bản đính kèm hợp đồng bảo hiểm được pháp luật quy định chặt chẽ về nội dung, hình thức, trình tự thủ tục và được Bộ Tài chính kiểm soát chặt chẽ.5 Bảo hiểm nhân thọ là một dịch vụ tài chính nhạy cảm BHNT là sản phẩm vô hình, khách hàng mua BHNT chỉ nhận được lợi ích khi có rủi ro xảy ra hoặc khi kết thúc hợp đồng. Do đó, niềm tin chính là yếu tố hình thành ý định mua BHNT của khách hàng nên khi một doanh nghiệp BHNT bị khủng hoảng có thể ảnh hưởng đến các doanh nghiệp BHNT còn lại vì lúc này niềm tin của khách hàng bị ảnh hưởng.
Khách hàng sẽ có xu hướng nghĩ rằng “Doanh nghiệp BHNT này có vấn đề thì dẫn đến các doanh nghiệp BHNT khác cũng có vấn đề”.3 Các loại hình bảo hiểm nhân thọ Theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, BHNT bao gồm: Bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí. Ngoài các loại hình bảo hiểm chính các công ty bảo hiểm còn cung cấp các sản phẩm bảo hiểm bổ trợ đi kèm để khách hàng có thêm nhiều sự lựa chọn như: Bảo hiểm trợ cấp nằm viện, bảo hiểm bệnh lý nghiêm trọng, bảo hiểm miễn nộp phí bảo hiểm, bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm chăm sóc sức khỏe.4 Khái niệm về ý định và ý định mua 2.1 Ý định Theo Ajzen (2002), ý định hành vi là hành động của con người được dẫn dắt bởi sự cân nhắc 03 yếu tố: niềm tin vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào sự kiểm soát. Các niềm tin này có ảnh hưởng cùng chiều với ý định thực hiện hành vi. Trong đề tài này, tác giả sẽ nghiên cứu ý định mua BHNT của người dân Quận Gò Vấp, TP.1 Ý định mua Theo Ajzen (1991), ý định sẽ đại diện các thành phần động lực của một hành vi, đó là mức độ nỗ lực có ý thức rằng một người sẽ thực hiện hành vi.
Do đó, có thể nói rằng ý định mua là ý muốn và sự sẵn lòng bỏ tiền ra để đổi lấy sản phẩm/dịch vụ. Ý định mua là yếu tố chính dự đoán hành vi mua của khách hàng.5 Mối quan hệ giữa ý định và quyết định hành vi Theo Elbeck (2008), ý định mua được mô tả là sự sẵn sàng của khách hàng trong việc mua sản phẩm. Việc bán hàng của doanh nghiệp có thể được khảo sát dựa trên ý định mua của khách hàng. Thuyết hành vi dự định của Ajen cũng như thuyết hành động hợp lý của Fishbein và Ajzen đều cho rằng xu hướng hành vi (ý định) ảnh hưởng đến hành vi thực sự.
Vì vậy, ý định mua được xem là cơ sở để dự đoán cầu trong tương lai (Warshaw, 1980; Bagozzi, 1983; Fishbein và Ajzen, 1975). Như vậy, ý định mua BHNT của người dân Quận Gò Vấp, TP. HCM là cơ sở để dự báo số lượng khách hàng mua BHNT trên địa bàn Quận Gò Vấp, TP. HCM trong tương lai.1 Thuyết hành động hợp lý - Theory of Reasoned Action (TRA) - Thuyết hành động hợp lý (TRA) của tác giả Fishbein và Ajzen (1975) quan tâm đến hành vi của NTD cũng như xác định khuynh hướng hành vi của họ.
- Theo Thuyết hành động hợp lý, yếu tố quan trọng nhất để dự đoán về hành vi tiêu dùng thực sự là ý định hành vi. Ý định hành vi (Behavior Intention) được hiểu là ý 9 muốn thực hiện hành vi cụ thể nào đó. Ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: Thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan liên quan đến hành vi. + Thái độ là biểu hiện yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực của NTD đối với sản phẩm.
Thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. + Chuẩn chủ quan là nhận thức của một cá nhân với những người tham khảo quan trọng của cá nhân đó (người tham khảo quan trọng này có thể là gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…) cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện Chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan với NTD, được xác định bằng niềm tin chuẩn mực cho việc mong đợi thực hiện hành vi và động lực cá nhân thực hiện phù hợp với sự mong đợi đó. Thuyết hành động hợp lý cũng đã cung cấp một nền tảng lý thuyết rất hữu ích trong việc tìm hiểu thái độ đối với hành động trong tiến trình chấp nhận của người tiêu dùng, theo đó đã cho thấy ý định hành vi tiêu dùng được xem là yếu tố dự đoán tốt nhất cho hành vi tiêu dùng. Niềm tin đối với thuộc tính sản phẩm Thái độ Đo lường niềm tin đối với thuộc tính của sản phẩm Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Niềm tin về những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên hay không nên mua sản phẩm Chuẩn chủ quan Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Hình 2.1 Thuyết hành động hợp lý Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975 10 2.2 Thuyết hành vi được hoạch định - Theory of Planned Behaviour (TPB) Năm 1991, Ajzen đã xây dựng Thuyết hành vi được hoạch định bằng cách mở rộng mô hình TRA.