Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Nghiên cứu về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nói chung và nghiên cứu làm rõ các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng là chủ đề có tính hấp dẫn đối với nhiều chuyên gia kinh tế, nhiều cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp ở Việt Nam. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các tác giả trong và ngoài nước. Trong đó, có thể nêu ra những nhóm công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: 1.
Nhóm các công trình của tác giả quốc tế tiêu biểu * Nhóm các nghiên cứu bàn về sự xuất hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài Lý thuyết về xuất khẩu tư bản của V. Lênin cho rằng: “Điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản cũ, trong đó là sự tự do cạnh tranh hoàn toàn thống trị, là việc xuất khẩu hàng hóa. Điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản mới, trong đó các tổ chức độc quyền thống trị là việc xuất khẩu tư bản” [61, tr. Xuất khẩu tư bản mà Lênin nghiên cứu vào đầu thế kỷ XX với mục đích là lợi nhuận.
Xuất khẩu tư bản và đầu tư nước ngoài hiện nay cũng có điểm khác nhau: xuất khẩu tư bản để giải quyết vấn đề dư thừa tương đối tư bản. Xuất phát từ việc xem xét chu kỳ sản phẩm, Akamatsu Kaname trong bài: “A Historical Pattern of Economic Growth in Developing Countries” (Một mẫu lịch sử của tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển) [67] đã cho rằng, sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách thu hút vốn, kỹ thuật của nước ngoài. Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước luan an 14 bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện.
Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI [67]. Cũng cùng quan điểm này, Raymond Vernon trong công trình “International Investment and International Trade in the Product Cycle” (Đầu tư quốc tế và thương mại quốc tế trong các chu kỳ sản phẩm) [100] cho rằng, khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình, cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn [100].
Với quan điểm chiết trung, Dunning trong nghiên cứu “Trade, location of economic activity and the MNE: a search for an eclectic approach” (Thương mại, vị trí của hoạt động kinh tế và các doanh nghiệp đa quốc: tìm kiếm một phương pháp chiết trung) [73] và bài nghiên cứu “Why Do Companies Invest Overseas” (tại sao các công ty đầu tư ra nước ngoài) [74], cho rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bị ảnh hưởng cả hai yếu tố: yếu tố đẩy từ nước đầu tư và yếu tố kéo từ nước thu hút đầu tư. Một số yếu tố như thị trường trong nước bị hạn chế, chi phí các yếu tố đầu vào và lao động, áp lực cạnh tranh cao. của nước đầu tư sẽ là động lực để thúc đẩy hành vi đầu tư ra nước ngoài. Ngược lại, thị trường lớn và phát triển ổn định, chi phí các yếu tố đầu vào và lao động rẻ, chính sách ưu đãi đầu tư hợp lý.
sẽ thu hút được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài [73]; [74]. Bắt nguồn từ lý thuyết thương mại quốc tế của Heckscher trong bài “The effect of foreign trade on the distribution of income” (Tác động của ngoại thương đến phân phối thu nhập) [77] và Ohlin-Ho trong tác phẩm “Interregional and International Trade” (Thương mại liên khu vực và quốc tế) [92], giải thích hiện tượng đầu tư quốc tế dựa trên lợi thế so sánh của các yếu tố đầu tư (vốn, lao động) giữa các nước, đa phần là giữa các nước phát triển và đang phát triển.Kemp đề xuất mô hình di chuyển vốn quốc tế [82]. Quan điểm của McDougall - Kemp phát triển từ lý thuyết của Mac. Dougall [89], cho rằng các nước dư thừa vốn đầu tư có năng suất cận biên của vốn thấp hơn năng suất cận biên của vốn ở những nước thiếu vốn.
Do đó, xuất hiện dòng lưu chuyển giữa 2 nhóm nước [89]. Tuy nhiên, mô hình này không giải thích được hiện tượng cùng một nước nhưng có cả hai dòng vốn chảy vào và chảy ra. Do đó, lý thuyết lợi nhuận cận biên chỉ có thể là bước khởi đầu nghiên cứu về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Nghiên cứu của Charles Kindleberger và Stephen Hymer; hay Dunning, Krugman A.
đều cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (bí mật về công nghệ và lợi thế về thông tin vượt trội…) giúp các công ty vượt có lợi thế về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm mở rộng thị trường sản phẩm [73]; [79]; [84]; [85]. Nhóm các công trình giải thích sự lựa chọn nước thu hút đầu tư của nước đầu tư, bao gồm: Romer và Lucas cho rằng các yếu tố sau tác động đến hành vi đầu tư: ý định đầu tư; sự ổn định về môi trường đầu tư; sự phát triển của hệ thống tài chính; chính sách lãi suất; chính sách đầu tư công; chất lượng nguồn nhân lực; sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ hoặc các dự án trong cùng ngành có mối liên kết; khả năng tiếp thu và vận dụng và phát triển công nghệ; khả năng hỗ trợ và chính sách hỗ trợ đầu tư của nước thu hút đầu tư (thị trường, luật lệ, thủ tục, công nghệ) [87]; [96]. Tổng hợp phân tích hành vi đầu tư của doanh nghiệp từ nhiều nghiên cứu (mô hình đầu tư theo lý thuyết tân cổ điển của Solow; mô hình hành vi đầu tư của doanh nghiệp tiếp cận theo mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro; mô hình ngoại tác của Romer và Lucas cho thấy các yếu tố có thể tác động tới hành vi đầu tư: (1) ý định đầu tư (sự thay đổi nhu cầu); (2) sự ổn định về môi trường đầu tư; (3) các chính sách hỗ trợ đầu tư (quy định pháp luật, quy trình, thủ tục); (4) chính sách lãi suất; (5) mức độ phát triển của hệ thống tài chính; (6) chính sách luan an 16 đầu tư công; (7) chất lượng nguồn nhân lực; (8) sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ và các dự án đầu tư khác trong cùng ngành hay trong các ngành có mối liên kết; (9) khả năng tiếp thu và vận dụng và phát triển công nghệ; (10) mức độ đầy đủ và minh bạch về thông tin, kể cả thông tin về thị trường, luật lệ, thủ tục, về các tiến bộ công nghệ [71]; [87]; [96]; [97]. Môi trường đầu tư tại nơi thu hút đầu tư là yếu tố quyết định để thu hút đầu tư vào địa phương đó đồng thời là yếu tố mang lại lợi thế cạnh tranh giữa các địa phương.
Parasuraman trong bài nghiên cứu “A conceptual model of service quality and its implications for future research” (Một mô hình khái niệm về chất lượng dịch vụ và ý nghĩa của nó đối với nghiên cứu trong tương lai) [93] đã đưa ra mô hình SERVQUAL nhằm đánh giá chất lượng dịch vụ với năm thành phần đánh giá, bao gồm: (1) yếu tố tin cậy; (2) yếu tố khả năng đáp ứng; (3) yếu tố năng lực phục vụ; (4) yếu tố đồng cảm; (5) yếu tố phương tiện hữu hình. Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng là hai khái niệm khác nhau. Tác giả Oliver cho rằng sự thỏa mãn của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng khi được đáp ứng mong muốn sau khi khách hàng trải nghiệm sản phẩm hay dịch vụ [40, tr. Sự thỏa mãn khách hàng là một khái niệm tổng quát nói lên sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ, đó là sự khác biệt giữa kết quả nhận được so với kỳ vọng.
Trong khi đó, Zeithml và Bitner cho rằng chất lượng dịch vụ chỉ tập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ [40, tr. * Nhóm công trình về những yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Nghiên cứu của Asiedu trong bài “On the determinants of foreign direct investment to developing countries: is Africa different” (bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các quốc gia đang phát triển: Châu Phi có sự khác biệt không?) [69], nghiên cứu này tìm hiểu xem liệu các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở các nước đang phát triển có ảnh hưởng đến các quốc gia ở châu Phi cận Sahara (SSA) luan an 17 khác nhau hay không. Bằng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu (OLS), kết quả cho thấy: (1) lợi tức đầu tư cao hơn và KCHT tốt hơn có tác động tích cực đến FDI đối với các nước không thuộc SSA, nhưng không có tác động đáng kể đến FDI đối với SSA; (2) độ mở thương mại tác động tích cực đến việc thu hút vốn FDI đến các quốc gia SSA và không thuộc SSA; tuy nhiên, lợi ích cận biên từ sự độ mở thương mại gia tăng ít hơn đối với SSA. Những kết quả này hàm ý rằng Châu Phi có sự khác biệt vì thế các chính sách thành công ở các khu vực khác có thể không thành công khi áp dụng ở Châu Phi.
Cùng tác giả, Asiedu trong: “Foreign direct investment in Africa: The role of natural resources, market size, government policy, institutions and political instability” (Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại châu Phi: Vai trò của tài nguyên thiên nhiên, quy mô thị trường, chính sách của chính phủ, các tổ chức và bất ổn chính trị) [70], bằng khảo sát dữ liệu từ một số nhà đầu tư, đã cho rằng, sự bất ổn kinh tế vĩ mô, hạn chế đầu tư, tham nhũng và bất ổn chính trị có tác động tiêu cực đến FDI vào châu Phi.