Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu: trình bày tóm lược về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: trình bày tổng quan các lý thuyết về nghèo, các mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo. Chương 3: Trình bày thiết kế nghiên cứu: Nguồn dữ liệu nghiên cứu, ước lượng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo tại huyện Phù Mỹ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu: phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, kết quả phân tích mô hình và kiểm định mô hình.
Chương 5: Kết luận, đề xuất và kiến nghị. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm nghèo: Khái niệm về nghèo hay nhận dạng về nghèo của từng quốc gia, vùng hay từng cộng đồng dân cư nhìn chung không có sự phân biệt đáng kể. Hầu hết các tiêu chí để xác định nghèo đều dùng mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhất của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau thường là ở chỗ mức độ thỏa mãn cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 định nghĩa: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” (trích theo Nguyễn Trọng Hoài, 2007) Theo Ngân hàng thế giới (WB), qua thời gian cũng có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong các báo cáo của mình. Năm 1990, định nghĩa nghèo của tổ chức này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2000 và 2001, Ngân hàng thế giới đã thêm vào khái niệm tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương: “Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng. Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường.
Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ” (trích theo Nguyễn Trọng Hoài, 2007). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Ở Việt Nam khái niệm về nghèo đói thường được sử dụng là khái niệm được đưa ra tại Hội nghị chống đói nghèo do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 và được các quốc gia trong khu vực thống nhất. Khái niệm cho rằng: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” (trích theo Nguyễn Trọng Hoài, 2007) Tóm lại, tất cả những khái niệm về nghèo tuy đa dạng nhưng luôn chứa đựng ba khía cạnh cơ bản và quan trọng: thứ nhất, người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; thứ hai, người nghèo không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng đó; thứ ba, người nghèo thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Theo Đinh Phi Hổ và cộng sự (2015), nghèo được nhận diện trên 2 khía cạnh: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình được xã hội thừa nhận không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống (ăn, mặc, ở, được chăm sóc sức khỏe, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) tùy theo trình độ phát triển của mỗi nước. Theo khái niệm này, trước hết nói đến nhu cầu cơ bản không phải chỉ có ăn, mặc mà còn bao gồm điều kiện sức khỏe, giáo dục và dịch vụ cần thiết khác.
Hơn nữa nhu cầu cơ bản không phải là bất định và giống nhau ở các nước. Nó còn thay đổi trong quá trình phát triển theo thời gian của mỗi quốc gia. Khi nhu cầu cơ bản được lượng hóa thành một lượng tiền nhất định (ngưỡng nghèo), một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nhập hoặc chi tiêu thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoản thời gian nhất định.1: Tiêu chuẩn nghèo đói của World Bank Tiêu chuẩn nghèo (Mức thu nhập hoặc chi tiêu Năm (USD)/người/ngày) 2003 1 USD hoặc 360 USD/năm 2008 1,25 USD hoặc 450 USD/năm (2 USD - PPP) Bảng 2.2: Tiêu chuẩn nghèo đói của Việt Nam Năm Nông thôn Thành thị Nguồn 2011 - 2005 100.000 Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg 2006 - 2010 200.000 Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg 2001 - 2015 400.000 Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg Nguồn: Tổng hợp từ các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn nghèo Chuẩn nghèo Việt Nam có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn. Chuẩn nghèo thành thị cao hơn nông thôn.
So với chuẩn nghèo của World Bank, chuẩn nghèo Việt Nam chỉ bằng 19% (chuẩn năm 2003) và 24% (chuẩn nghèo năm 2008). Nghèo tương đối: là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình thuộc nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội được xác định trong những địa điểm cụ thể và thời gian xác định. Theo khái niệm này, bất kỳ ở trình độ phát triển nào cũng luôn có một nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất so với các nhóm dân cư khác. Như vậy, tình trạng nghèo tương đối luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển kinh tế khác nhau.
Phương pháp tiếp cận và các tiêu chí đánh giá đói nghèo: 2. Phương pháp tiếp cận nghèo: Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo. Trải qua hơn một thế kỷ, trên thế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 giới đã hình thành 3 phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo chủ yếu sau: Phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu; Phương pháp dựa vào thu nhập thực tế; Phương pháp dựa vào đánh giá của người dân. Trong 3 phương pháp trên thì 2 phương pháp đầu được các quốc gia sử dụng khá phổ biến.
Tiêu chí đánh giá đói nghèo: Trên thế giới: * Chỉ tiêu thu nhập Thu nhập bình quân theo đầu người là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh được quy mô, trình độ phát triển kinh tế và mức sống của người dân trong một nước. Hiện nay trên thế giới tồn tại hai phương pháp tính toán chủ yếu của WB. - Phương pháp Atlas (phương pháp theo tỉ giá hối đoái). WB phân ra làm 6 loại nước (là mức thu nhập năm 1990).
Nước cực giàu: > 25. Nước khá giàu: 10. Nước trung bình: 2. Nước cực nghèo: < 500 USD/năm.
Theo phương pháp đánh giá này, Việt Nam có thu nhập 1.200 USD năm 2010 thuộc vào nhóm nước nghèo. Tuy nhiên theo phương pháp trên, việc chuyển đổi thường bị sai lệch không phản ánh được tính ngang giá của sức mua. Do đó từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Liên hợp quốc (LHQ) đã đề ra phương pháp tính bình quân thu nhập mỗi nước theo sức mua tương đương (PPP). - Phương pháp sức mua tương đương (PPP) Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi so sánh chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người giữa các nước, nhằm đưa ra chỉ tiêu định lượng so sánh giữa các nước bằng cách đưa đồng tiền của mỗi nước về một đơn vị đo lường thống nhất đồng USD.
WB sau nhiều cuộc điều tra trên toàn cầu đã đưa ra ngưỡng nghèo chung (theo PPP). Đối với các nước thu nhập thấp: < 1 USD/người/ngày. Đối với các nước thu nhập trung bình thấp : < 2 USD/người/ngày. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 * Chỉ tiêu dinh dưỡng Nhu cầu về dinh dưỡng là nhu cầu cơ bản và tối thiểu của con người để tồn tại, hoạt động và tái tạo sức lao động.
Chỉ tiêu cơ bản nhất về lượng dinh dưỡng đưa vào cơ thể là lượng calo tiêu dùng hàng ngày. Để xây dựng một ngưỡng nghèo cần phải xác định nhu cầu tiêu dùng của toàn bộ dân số. Lượng dinh dưỡng 2.100 kcalo mà tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra dựa trên nhiều lần đánh giá, kiểm nghiệm. Ngưỡng nghèo hay mức nghèo, là mức chi dùng tối thiểu, được xác định như tổng số tiền chi cho giỏ tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực, thực phẩm và đồ dùng cá nhân cần thiết bảo đảm cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành và các khoản chi bắt buộc khác.
WB xây dựng ngưỡng nghèo trên cơ sở xác định nhu cầu tiêu dùng về lương thực của con người. Cụ thể: - Ngưỡng nghèo thứ nhất: Là số tiền cần thiết để mua số lượng lương thực. Lượng lương thực này phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đủ 2100 kcalo cho mỗi người mỗi ngày (gồm 40 loại sản phẩm), được gọi là ngưỡng nghèo lương thực. - Ngưỡng nghèo thứ hai: Bao gồm chi tiêu cho sản phẩm lương thực và phi lương thực gọi là ngưỡng nghèo chung.
Nghèo đói chịu tác động của nhiều nhân tố nên chưa thể coi 3 phương pháp trên là căn cứ để đánh giá mức độ giàu nghèo của một quốc gia. Vì vậy LHQ đã sử dụng chỉ số nghèo khổ Human Poverty Index (HPI). Các tính HPI dành cho các nước đang phát triển HPI -1 dựa vào chỉ số phát triển con người HDI. Chỉ số HPI được tính theo công thức: HPI = {1/3(P1 3+ P2 3 + P3 3 )}1/3 Trong đó P1: Xác xuất những người không thọ quá 40 tuổi (x 100) P2: Tỉ lệ người lớn mù chữ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 P3: Giá trị bình quân phi gia quyền của tỉ lệ người dân không tiếp cận bền vững với nguồn nước sạch (1) và tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (2).
Giá trị HPI càng cao thì mức độ nghèo khổ càng lớn và ngược lại.