Phần mở đầu Trình bày một cách tổng quan về vấn đề nghiên cứu: tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu của việc nghiên cứu, các câu hỏi đặt ra cho vấn 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đề nghiên cứu, giới hạn về đối tượng, nội dung, không gian và thời gian nghiên cứu cũng như đối tượng thụ hưởng kết quả của đề tài. Lược khảo lý thuyết và tổng quan tài liệu nghiên cứu về nghèo Trình bày các khái niệm về nghèo, các nghiên cứu thực nghiệm của thế giới và ở Việt Nam thời gian qua về nghèo để có cái nhìn tổng quan nhằm rút ra khung phân tích cho vấn đề cần nghiên cứu. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ trình bày cho người đọc biết được nguồn gốc của số liệu dùng để phân tích trong đề tài, số lượng mẫu quan sát, mô hình nghiên cứu và mô hình kinh tế lượng áp dụng. Kết quả và thảo luận Nội dung chương này tập trung vào việc mô tả khái quát về tình hình kinh tế xã hội cũng như thực trạng công tác XĐGN trên địa bàn huyện Châu Thành A trong thời gian qua; Phân tích các chiều thiếu hụt, các tiếp cận về nhu cầu cơ bản của hộ gia đình trên địa bàn huyện theo các nhóm chỉ tiêu trong phương pháp tiếp cận đa chiều; Sự tương quan của các nhân tố tác động đến nghèo đa chiều trên địa bàn huyện.
Kết luận và kiến nghị Tóm lược, khái quát lại các kết quả nghiên cứu quan trọng, vận dụng kết quả nghiên cứu để khuyến nghị một số chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện. Nhận diện lại những vấn đề còn bất cập của đề tài để gợi mở chiều hướng nghiên cứu tiếp theo. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ NGHÈO 2.1 Lược khảo lý thuyết 2.1 Khái niệm về nghèo Hiện nay không có một định nghĩa duy nhất về nghèo, cũng không có một phương pháp hoàn hảo nào để đo lường nghèo khó.
Trước đây, Hội nghị Chống nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 đã đưa ra định nghĩa nghèo như sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Nghèo được nhận diện trên 2 khía cạnh: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối được định nghĩa là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống; nhu cầu cơ bản, tối thiểu đó là mức bảo đảm tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường; Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định. Vì vậy nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xóa dần nghèo tuyệt đối là việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo, khái niệm nghèo tuyệt đối được sử dụng để so sánh mức độ nghèo khổ giữa các quốc gia.
Trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm quốc gia nghèo là đất nước có thu nhập bình quân đầu người rất thấp, nguồn lực cực kỳ hạn hẹp, cơ sở hạ tầng và môi trường yếu kém, vị trí không thuận lợi cho giao lưu với cộng đồng quốc tế. Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đôla (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Cũng có quan điểm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) - ông 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Abapia Sen, người được nhận giải Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng”. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và của người giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn (Lê Ngọc Yến, 2013).
Theo WB (2011), nghèo là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống (ăn, mặc, ở, được chăm sóc sức khỏe, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Theo Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2004 thì: “Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện, thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định,…”. Việt Nam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nghèo. Tuy nhiên các quan điểm hầu như đều tập trung vào việc đưa ra các chỉ tiêu đánh giá và chuẩn nghèo do cơ quan nhà nước quy định, cụ thể là Bộ LĐTB&XH.
Khi nhu cầu cơ bản được lượng hóa thành một lượng tiền nhất định (hay còn gọi là ngưỡng nghèo), một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo khi thu nhập hoặc chi tiêu của cá nhân hoặc hộ gia đình thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu do nhà nước quy định.2 Lý thuyết về nghèo đơn chiều 2.1 Chuẩn nghèo theo cách tiếp cận đơn chiều a) Chuẩn nghèo đơn chiều trên thế giới Để đo lường được mức độ nghèo khổ, mỗi quốc gia đều có tiêu chí cũng như phương thức xác định giới hạn nghèo khổ hay còn được gọi là chuẩn nghèo riêng biệt. Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP) dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu nhập theo đầu người hay theo nhóm dân cư. Thước đo này tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong thời gian nhất định, nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư. Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập mà WB đưa ra để xác định tình trạng nghèo của quốc gia.
Cụ thể: năm 2003 chuẩn nghèo tính theo thu nhập đầu người mà WB đưa ra là 1USD/người/ngày (hoặc 360USD/người/năm), năm 2008 là 1,25USD/người/ngày (hoặc 450USD/người/năm).1 Chuẩn nghèo đơn chiều của WB Chuẩn nghèo (theo nhu nhập hoặc chi tiêu) Năm Thu nhập/người/ngày Thu nhập/người/năm 2003 1 USD 360 USD 2008 1,25 USD 450 USD 2015 1,9 USD 684 USD Nguồn: World bank (2010) b) Chuẩn nghèo đơn chiều ở Việt Nam Ở Việt Nam, việc xây dựng chuẩn nghèo được bắt đầu từ năm 1993 và được điều chỉnh lần thứ hai vào năm 1998, có nhiều cơ quan quốc tế và trong nước tham gia xác định chuẩn nghèo như Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổng cục Thống kê và Bộ LĐTB&XH. Bộ LĐTB&XH là cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức triển khai đánh giá tình trạng nghèo và XĐGN hàng năm, các nước khác nhau sẽ có chỉ tiêu về mức sống tối thiểu khác nhau, Việt Nam cũng đã có nhiều phương pháp xác định về chuẩn nghèo và về mức sống tối thiểu (Trương Văn Tuyển, 2007). Bộ LĐTB&XH áp dụng khi phân loại nghèo ở các địa phương và sử dụng cách tiếp cận đo lường nghèo tuyệt đối dựa trên thu nhập. Ngưỡng nghèo MOLISA áp dụng đã được Chính phủ Việt Nam xây dựng có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, và có cập nhật theo thời gian cho các giai đoạn, thể hiện cụ thể qua bảng 2.2 dưới đây: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Chuẩn nghèo đơn chiều ở Việt Nam Chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu người/tháng (ngàn đồng) Giai đoạn Khu vực Khu vực Văn bản quy định thành thị nông thôn Thông báo số 1751/LĐTBXH, 1998-2000 90 70 ngày 20/5/1997 Quyết định số 143/2000/QĐ- 2001-2005 150 100 LĐTBXH, ngày 01/11/2000 Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, 2006-2010 260 200 ngày 08/7/2005 Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg, 2011-2015 500 400 ngày 30/01/2011 Nguồn: Tác giả tổng hợp Việt Nam đang trong thời buổi lạm phát, đồng tiền ngày càng bị trượt giá.
Nếu chuẩn nghèo không được điều chỉnh phù hợp và kịp thời thì sẽ không đánh giá đúng thực chất số hộ nghèo, hộ cận nghèo hiện tại. Và khi chuẩn nghèo không được thay đổi phù hợp cũng làm cho một số hộ vừa thoát nghèo, nhưng mức thu nhập còn thấp sẽ gặp khó khăn trong cuộc sống, mà không được hưởng chính sách an sinh xã hội. Đặc biệt, đối với các nhóm dân tộc thiểu số đang cư trú ở những khu vực có địa hình phức tạp. Sẽ rất khó khăn trong việc tạo điều kiện cho họ tiếp cận các dịch vụ xã hội, cũng như cơ hội phát triển kinh tế, cải thiện đời sống.2 Phương pháp đo lường nghèo đơn chiều Thời gian qua tỷ lệ hộ nghèo (P0) được xác định theo công thức sau: 𝑁0 𝑃0 = 100 𝑁 Trong đó: P0: Tỷ lệ hộ nghèo, hộ có thu nhập/chi tiêu dưới hoặc bằng chuẩn nghèo đối với toàn bộ số hộ khảo sát N0: Tổng số hộ nghèo N: Tổng số hộ được khảo sát 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đây là thước đo được dùng rộng rãi và đơn giản nhất để tính phần trăm dân số có thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo của một tổng thể quan sát, một địa phương hoặc một quốc gia.3 Lý thuyết liên quan đến nghèo đa chiều 2.1 Khái niệm nghèo đa chiều Thực tế cho thấy, chuẩn nghèo trong thời gian qua được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền, và thường ổn định trong giai đoạn 5 năm.