CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. LÝ DO NGHIÊN CỨU Tình trạng kẹt xe, tai nạn giao thông, và ô nhiễm môi trường do khí thải của các phương tiện giao thông là những vấn đề mà hấu hết các quốc gia đang phát triển ở Châu Á phải đối mặt, trong đó có Việt Nam. Vì cơ sở hạ tầng giao thông đô thị chưa phát triển bắt kịp với số lượng phương tiện cá nhân tăng nhanh đã làm tình trạng kẹt xe trở nên nghiêm trọng ở hai đô thị lớn Hà Nội và TP. Đối với TP.HCM, theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê: dân số của thành phố đến năm 2013 vào khoảng 8 triệu dân1.
Bên cạnh đó, số lượng xe máy và ô tô đã tăng gấp 5 lần từ 2000- 2011, và tính đến hết năm 2013 đã tăng thêm 15% so với năm 2010 nhưng tỷ lệ đất dành cho giao thông khoảng 7,8% thấp hơn so với các nước trên thế giới (khoảng 20- 25%)2. Hệ thống xe buýt công cộng được xây dựng với kỳ vọng giảm áp lực lên hệ thống giao thông của thành phố, nhưng trên thực tế tỷ lệ người sử dụng phương tiện này rất ít khoảng 5% vào năm 2009. Trong khi đó, người dân vẫn chọn đi lại bằng các phương tiện cá nhân mà bằng xe máy là chủ yếu. Trong thời gian gần đây, dự án đường sắt đô thị nhận được rất nhiều sự quan tâm và kỳ vọng của chính quyền địa phương, sẽ là hướng giải quyết cho tình trạng ùn tắc và kẹt xe.
Dự án đường sắt đô thị bao gồm sáu tuyến sẽ được triển khai dưới hình thức BOT hoặc PPP. Nhưng một câu hỏi đặt ra là sau khi hoàn thành dự án: người dân sẽ sử dụng tàu điện thay cho các phương tiện khác hay vẫn sử dụng các phương tiện cá nhân là cách thức đi lại chủ yếu. Điều này đòi hỏi cần một nghiên cứu xem xét các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn cách thức đi lại của người dân và tính 1 Theo kết quả “Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2003. Các kết quả chủ yếu” của Tổng cục thống kê Việt Nam công bố vào tháng 12 năm 2013.
2 Nguồn: http://www. Bài viết: “Chống kẹt xe Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh” của Vũ Thành Tự Anh và Đỗ Hoàng Phương, Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright, ngày 7 tháng 1 năm 2013. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 xác suất chọn sử dụng. Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp các đánh giá về các yếu tố tác động đến sự lựa chọn của người dân.
Bên cạnh đó, nghiên cứu còn đưa ra các hàm ý trong quá trình xây dựng chính sách phát triển giao thông đô thị trong thời gian tới. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này tập trung phân tích hành vi lựa chọn phương tiện đi lại, cụ thể là tàu điện ngầm của người có nhu cầu đi lại, đồng thời nghiên cứu những yếu tố tác động đến quyết định chọn phương tiện đi lại của người dân tại TP. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Nghiên cứu được tiến hành với phạm vi nghiên cứu được lựa chọn thực hiện tại TP.HCM, đối với các cá nhân. Nghiên cứu dựa trên hai lý thuyết nền cơ bản cho việc mô hình hóa sự lựa chọn, đó là: lý thuyết các đặc tính của giá trị do Lancaster xây dựng, lý thuyết Random Utility Theory (RUT) và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan để xây dựng khung phân tích – sẽ được nghiên cứu thảo luận chi tiết trong Chương 2.
Tiếp đó, Chương 3 sẽ thảo luận phương pháp luận cho nghiên cứu này, cách thiết kế nghiên cứu và thiết kế bảng câu hỏi điều tra chi tiết sẽ được giới thiệu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Khi tóm lược về lịch sử hình thành lý thuyết lựa chọn trong kinh tế học, McFadden (2001) trong bài viết có tựa đề “Economic Choice”, đã đề cập: Lý thuyết kinh tế học cổ điển cho rằng người tiêu dùng tìm kiếm việc tối đa hóa sở thích của chính họ và sở thích thể hiện qua sự khác biệt trong các quyết định. Sự hợp lý trong hành vi của người tiêu dùng được diễn giải theo nghĩa rất đặc trưng bởi John Hicks và Paul Samuelson về sự hoàn hảo.
Sự hoàn hảo được hai tác giả nêu ra hàm ý sở thích của cá nhân được xem là ổn định, tự nhiên mà có. Các nhà kinh tế học đã xem xét đến sự khác biệt về sở thích, nhưng sự phức tạp đã được bỏ qua trong các nghiên cứu thực nghiệm về cầu thị trường. Người tiêu dùng có những sở thích được đại diện bởi một hàm hữu dụng U(x) với một véc-tơ x của các mức độ tiêu dùng cho những hàng hóa khác nhau để tối đa hóa hàm hữu dụng này, dưới sự ràng buộc ngân sách: 𝒑. 𝒙 ≤ 𝑎, trong đó p là một véc-tơ giá và a là thu nhập của cá nhân, như vậy hàm cầu lúc này sẽ trở thành: 𝑥 = 𝑑(𝑎, 𝒑).
Khi được áp dụng nghiên cứu thị trường, một phần nhiễu 𝜀 được thêm vào hàm cầu để tính toán sự khác biệt trong dữ liệu quan sát, 𝒙 = 𝒅(𝑎, 𝒑) + 𝜺. Phần nhiễu đã được diễn giải như là sai số của x, hoặc có thể từ những sai lầm trong việc tối ưu hóa của người tiêu dùng. Chỉ có hàm cầu đại diện d(a,p) mới phải mang những ràng buộc được đưa ra trong lý thuyết người về tiêu dùng. Nhìn chung, các nhà kinh tế học trước những năm 1960 sử dụng lý thuyết người tiêu dùng như là một công cụ lập luận, để khám phá những tính chất của các phương án tổ chức thị trường và các chính sách kinh tế liên quan.
Khi lý thuyết về người tiêu dùng được áp dụng trong nghiên cứu thực nghiệm dựa vào các cấp độ dữ liệu khác nhau, có thể theo góc độ của một thị trường nhất định hoặc góc độ một quốc gia. Các nghiên cứu này thường phát triển dựa trên các giới hạn của một chủ thể đại diện nhất định (ví dụ, người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp), với cách nhìn nhận những hành vi của các chủ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 thể đại diện mang tính phổ quát trong thị trường được nghiên cứu. Khi các quan sát bị sai lệch theo những hàm ý trong lý thuyết về chủ thể đại diện thì các khác biệt đó sẽ được nhà nghiên cứu tính toán vào một phần nhiễu và sai số đo lường của dữ liệu, và không xem đó là các yếu tố không quan sát được trong hoặc khác biệt qua các cá nhân đại diện. Trong những năm 1960, sự gia tăng các dữ liệu khảo sát hành vi cá nhân và sự cải tiến nhanh chóng của máy tính cá nhân đã giúp các nhà nghiên cứu phân tích được những dữ liệu này, tập trung chủ yếu vào sự khác biệt trong nhu cầu của các cá nhân.
Việc mô hình hóa và giải thích sự khác biệt giữa các cá nhân trở nên quan trọng như một phần của lý thuyết người tiêu dùng. Điều này đặc biệt rõ ràng đối với lựa chọn rời rạc, ví dụ như trong lựa chọn cách thức đi lại hoặc nghề nghiệp. Những giải pháp cho vấn đề nêu trên đã đưa đến những công cụ phân tích kinh tế lượng vi mô về hành vi lựa chọn như hiện nay. Nguồn gốc của kỹ thuật lựa chọn bắt nguồn từ những nghiên cứu trong ngành tâm lý học nhưng chưa thể áp dụng vào nghiên cứu thị trường và hành vi của người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh tế học.
Vào năm 1960, Jacob Marschak đã đưa lý thuyết trong nghiên tâm lý học của Thurstone vào các mô hình kinh tế, bằng cách diễn giải những kích thích về mặt tâm lý theo các khái niệm của kinh tế học, với xác suất việc lựa chọn để tối đa hóa hữu dụng mà bản thân nó chứa đựng các yếu tố ngẫu nhiên (Kjær, 2005). Marschak gọi đó là mô hình tối đa hóa hữu dụng ngẫu nhiên (Random Utility Maximization, RUM). Để đo lường giá trị kinh tế, có hai cách tiếp cận được trình bày trong nghiên cứu của Kjær (2005), Bateman và cộng sự (2002): Phương pháp tiết lộ sở thích (Revealed Preference Method) và phương pháp phát biểu sở thích (Stated Preference Method). Trong đó, các phương pháp có liên quan đến phát biểu sở thích bao gồm hai loại: phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent valuation method, CVM) và phương pháp thí nghiệm lựa chọn rời rạc (Discrete choice experiment, DCE).
Sự ra đời của lý thuyết RUM, cùng sự phát triển nhanh của các kỹ thuật kinh tế lượng đã giúp cho các phương pháp liên quan đến lựa chọn trong nghiên cứu kinh tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 trở nên hữu ích, và có khả năng áp dụng phổ biến trong các nghiên cứu thực nghiệm. Nhưng quan trọng nhất, lý thuyết RUM đã cung cấp được mối liên hệ giữa hành vi quan sát được của người tiêu dùng với lý thuyết kinh tế học. Trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường, phương pháp thí nghiệm lựa chọn rời rạc được một số nhà nghiên cứu gọi với cái tên là kỹ thuật phân tích kết hợp (Conjoint analysis, CA), được đề cập trong nghiên cứu của Green và Srinivasan (1978). Phương pháp phân tích kết hợp đóng vai trò quan trọng trong dự đoán và hiểu được quyết định của người tiêu dùng thông qua những phân tích dựa trên thuộc tính sản phẩm.
Tuy nhiên, cụm từ phân tích kết hợp không còn được sử dụng rộng trong nghiên cứu kinh tế sau này, mà được thay thế bởi các kỹ thuật có giá trị hơn dựa trên nền tảng lý thuyết về sự ngẫu nhiên trong hữu dụng (Random Utility Theory, RUT) (Louviere và công sự, 2000; Louviere, 2001; Louviere và công sự, 2010) cũng chính là RUM mà nghiên cứu sẽ thảo luận chi tiết hơn trong những phần kế tiếp. Trong các nghiên cứu kinh tế học môi trường, kỹ thuật có liên quan đến lựa chọn thường được gọi là thí nghiệm sự lựa chọn (Choice Experiment, CE) hoặc mô hình hóa lựa chọn (Choice Modelling, CM). Các nhà kinh tế học đã chia các kỹ thuật liên quan đến lựa chọn thành ba nhóm, bao gồm: (1) Thí nghiệm sự lựa chọn rời rạc; (2) Sắp xếp ngẫu nhiên; (3) Xếp hạng ngẫu nhiên. Cách phân loại dựa trên sự khác nhau về các giả định lý thuyết, phương pháp phân tích và tiến trình thực hiện thí nghiệm (Bateman và cộng sự, 2002; Blamey và cộng sự, 2002; Louviere và cộng sự, 2000).
Cách thiết kế các phương án chọn cơ bản là giống nhau cho mỗi kỹ thuật và đáp viên phải đưa ra được sở thích khi đối mặt với một tập các phương án đầy đủ và hữu hạn với các thuộc tính khác nhau của đối tượng.