Mở đầu Trong chƣơng này tác giả trình bày khái quát về lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, khái quát phƣơng pháp nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu luận văn. 5 Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Trong chƣơng này tác giả trình bày giới thiệu tổng quan về tập đoàn Tân Tạo và lý thuyết về lòng trung thành, đồng thời tổng hợp các các nghiên cứu trƣớc có liên quan trƣớc đây trong và ngoài nƣớc. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Trong chƣơng này tác giả giới thiệu tổng quan về phƣơng pháp nghiên cứu; quy trình nghiên; thu thập và xử lý số liệu; phƣơng pháp phân tích dữ liệu; mô hình nghiên cứu của đề xuất; thang đo và thiết kế mẫu. Chƣơng 4: Phân tích kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chƣơng này tác giả trình bày phần giới thiệu mô tả thống kê mẫu, sau đó là kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố và Cronbach’s Alpha.
Sau khi kiểm định thang đo tác giả thực hiện kiểm định mô hình, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đánh giá các yếu tố thông qua hồi quy bội, kiểm định ANOVA và kiểm định Independent SamQHCTe T-test qua kết quả kiểm định tác giả thảo luận kết quả. Cuối cùng là kết luận kết quả nghiên cứu. Chƣơng 5: Kết luận Trong chƣơng này đầu tiên tác giả trình bày kết luận các kết quả nghiên cứu, đề xuất giải pháp và các hạn chế của nghiên cứu, đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chƣơng này tác giả trình bày các lý thuyết nền liên quan đến động lực làm việc của nhân viên, lý thuyết về lòng trung thành.
Ngoài ra, các nghiên cứu trƣớc đây cũng đƣợc đề cập đến nhằm rút ra các yếu tố ảnh hƣởng đến lòng trung thành của nhân viên. Bên cạnh đó, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu cũng đƣợc đề cập đến trong chƣơng này.1 Lý thuyết về lòng trung thành Hiện nay, không chỉ tại Việt Nam mà các nƣớc trên thế giới các nghiên cứu về lòng trung thành của nhân viên luôn thể hiện đƣợc vai trò của nó trong việc hỗ trợ quản trị nhân sự trong không chỉ cho các doanh nghiệp mà còn trong các tổ chức công quyền, phi chính phủ. Hiện nay có nhiều khái niệm liên quan đến sự trung thành. Theo từ Niehoff, Moorman, và Fuller (2001) thì lòng trung thành là những biểu hiện mang tính chủ động về lòng tự hào và sự tận tâm với tổ chức.
Bên cạnh đó theo Allen & Meyer (1991) là điều kiện tâm lý phản ánh mối quan hệ của cá nhân với tổ chức. Theo Porter, et al (1979) thì sự trung thành sự tƣơng quan giữa mỗi cá nhân với tổ chức và nó có sự tin tƣởng mạnh đối với mục tiêu, giá trị của tổ chức và sẵn sàng nỗ lực có thể để phục vụ tổ chức và có mong muốn lơn lao để tiếp tục đƣợc làm việc tại tổ chức. Theo một quan điểm khác thì lòng trung thành đƣợc xem nhƣ là một hình thức cam kết quả nhân viên với tổ chức, nó yêu cầu những hành động của ngƣời nhân viên có sự quan tâm hơn đối với ông chủ hoặc công ty (Elegido, 2013). Nhƣ vậy, có thể hiểu lòng trung thành của nhân viên đồi với tổ chức đƣợc hiểu là sự tin tƣởng của nhân viên đối với tổ chức, đối với ngƣời chủ của mình, đồng thời cũng thể hiện sự tin tƣởng của họ đối với các mục tiêu, giá trị của tổ chức mình đang làm việc.2 Các lý thuyết nhằm tìm hiểu các yếu tố tác động đến lòng trung thành của nhân viên.1 Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow: Năm 1943, Maslow đã phát triển lý thuyết về “Thứ bậc nhu cầu” của con ngƣời (Hierarchy of Need) gồm 5 cấp bậc.
Ông sắp xếp các nhu cầu của con ngƣời theo một hệ thống trật tự cấp bậc theo hình kim tự tháp, trong đó các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải đƣợc thỏa mãn trƣớc. Nhƣng bản hoàn chỉnh và đầy đủ nhất của lý thuyết này đƣợc đƣa ra vào năm 1954, năm thứ bậc nhu cầu đó lần lƣợt là: (1) Nhu cầu sinh lý (2) Nhu cầu an toàn, (3) Nhu cầu xã hội, (4) Nhu cầu đƣợc tôn trọng, (5) Nhu cầu thể hiện mình. Nhu cầu tự thể hiện Nhu cầu đƣợc tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 2. Các cấp bậc nhu cầu của Maslow (Nguồn: Abraham Maslow, 1943) Sau đó, vào năm 1990, nó đƣợc hiệu chỉnh lý thuyết này thành 8 bậc, trong đó thừa kế cả 5 nhu cầu sẵn có và bổ sung thêm 3 nhu cầu bậc cao hơn nữa, đó là: 1.
Nhu cầu về nhận thức (cognitive needs) 2. Nhu cầu về thẩm mỹ (aesthetic needs) 3. Nhu cầu về tự tôn bản ngã (self – transcendence) 8 Trên thực tế các nhu cầu không phải lúc nào cũng xuất hiện theo thứ bậc của Maslow đã đề nghị mà tùy thuộc nhiều vào yếu tố cá nhân và hoàn cảnh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhu cầu con ngƣời còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhƣ: giai đoạn nghề nghiệp, quy mô của tổ chức và vị trí địa lý, văn hóa… Theo thuyết thứ bậc về nhu cầu của Maslow, các nhà quản lý ở các đơn vị ngân hàng phải hiểu đƣợc nhân viên của mình đang ở cấp độ nhu cầu nào, thứ tự có giống với lý thuyết của Maslow hay không? Từ đó mới có cơ sở để có thể thỏa mãn chính xác và kịp thời nhu cầu của ngƣời lao động, nâng cao sự hài lòng, sự trung thành của nhân viên từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của đơn vị.2 Frederick Herzberg với “2 faction theory” (Thuyết 2 nhân tố - 1959) Thuyết hai nhân tố đƣợc đƣa ra bởi Frederick Herzberg – nhà tâm lý học ngƣời Hoa Kỳ.
Ông khảo sát trên mẫu với đối tƣợng là những nhân viên kế toán và kỹ sƣ. Mỗi ngƣời sẽ đƣợc phỏng vấn về công việc của mình để tìm ra các yếu tố tích cực (hài lòng) hay không tích cực (bất mãn) có ảnh hƣởng đến sự hài lòng trong công việc. Kết quả phân tích đã xác định đƣợc hai nhóm có ảnh hƣởng trái ngƣợc nhau đối với công việc, cụ thể đƣợc thể hiện qua bảng sau: Bảng 2. Các yếu tố động viên và duy trì của F.Herzberg Yếu tố động viên Yếu tố duy trì - Thành tựu - Chính sách và quy định quản lý công ty - Sự thừa nhận - Sự giám sát - Bản chất công việc - Mối quan hệ - Trách nhiệm - Điều kiện làm việc - Cơ hội thăng tiến - Lƣơng (Nguồn: Tổng hợp của tác giả) Lý thuyết hai nhân tố của F.
Herzberg rất có ý nghĩa đối với các nhà quản lý để làm hài lòng nhân viên. Các nhà quản lý trƣớc hết phải cải thiện các yếu tố duy trì trƣớc khi muốn làm tăng sự động viên cho nhân viên của họ. Mỗi ngƣời sẽ có cảm nhận khác nhau về 2 nhóm yếu tố này, vì có thể một yếu tố là động viên với ngƣời này nhƣng là 9 duy trì của ngƣời khác và xu hƣớng là các yếu tố động viên qua thời gian sẽ trở thành yếu tố duy trì. Do đó, ngƣời quản lý cần phải luôn tìm giải pháp để làm phong phú hơn cho công việc của nhân viên bởi điều đó sẽ góp phần tạo ra thêm nhiều yếu tố động viên hơn.3 Thuyết kỳ vọng của Vroom (1964) Victor H.
Vroom cho rằng động viên là kết quả của những mong đợi của một cá nhân. Sự động viên của con ngƣời phụ thuộc vào hai nhân tố là mức độ mong muốn thực sự của cá nhân đối với việc giải quyết công việc và cá nhân đó nghĩ về công việc thế nào và sẽ đạt đến nó nhƣ thế nào. Vì vậy, để động viên ngƣời lao động chúng ta cần quan tâm đến nhận thức và mong đợi của cá nhân về các mặt: tình thế, các phần thƣởng, sự dễ dàng thực hiện theo cách mà sẽ đạt đến phần thƣởng và sự bảo đảm là phần thƣởng đƣợc trả. Thuyết mong đợi đòi hỏi các nhà quản lý phải hiểu biết những mong đợi của ngƣời lao động và gắn những mong đợi này với những mục tiêu của tổ chức.
Muốn vậy nhà quản trị nên: tạo ra các kết cục mà ngƣời lao động mong muốn, tạo ra sự cần thiết thực hiện để đạt mục tiêu tổ chức, bảo đảm mức độ thực hiện mong muốn là có thể đạt tới, gắn chặt kết quả mong đợi với việc thực hiện cần thiết, đánh giá tình thế đối với những mong đợi khác nhau, bảo đảm phần thƣởng là đủ sức hấp dẫn cần thiết và công bằng đối với tất cả mọi ngƣời (Nguyễn Hữu Lam, 1996, tr.3 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến lòng trung thành của nhân viên Nghiên cứu của Trần Thị Kim Dung và Nguyễn Thị Mai Trang (2007) cho rằng phong cách lãnh đạo và văn hoá tổ chức có ảnh hƣởng đến lòng trung thành của nhân viên cụ thể: Lãnh đạo mới về chất có ảnh hƣởng đến lòng trung thành của nhân viên, tuy nhiên điều này không đúng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Do tính chất khốc liệt của các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, nhiều nhân viên dù vẫn đạt kết quả làm việc tốt nhƣng không chịu đƣợc áp lực công việc quá cao trong thời gian dài đành chấp nhận chuyển sang công ty khác. 10 Văn hoá mới – hỗ trợ với việc tạo ra môi trƣờng làm việc hỗ trợ, hƣớng tới mục tiêu, tạo hào hứng cho mọi ngƣời,. có tác dụng tốt để giữ nhân viên.
Nó có ảnh hƣởng đến lòng trung thành của nhân viên trong cả ba loại hình sở hữu của doanh nghiệp. Văn hoá hành chính; văn hoá hành chính không ảnh hƣởng đến lòng trung thành của nhân viên trong các doanh nghiệp nội địa nhƣng có ảnh hƣởng đến lòng trung thành của nhân viên trong các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Khi ứng tuyển vào làm việc ở các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, ngƣời lao động đã mong đợi đƣợc làm việc trong một môi trƣờng làm việc chuyên nghiệp, nếu điều này không đạt đƣợc, ngƣời lao động dễ rời bỏ doanh nghiệp. Ngƣợc lại khi đồng ý làm việc cho các doanh nghiệp nội địa, ngƣời lao động thƣờng dễ châm chƣớc và chấp nhận bàn giấy hành chính, tác phong chƣa chuyên nghiệp và tập cách thích nghi với doanh nghiệp hơn.
Vũ Khắc Đạt (2008) Ngiên cứu về các nhân tố tác động đến lòng trung thành của nhân viên tại khu vực Miền Nam, Việt Nam Airlines, tác giả nghiên cứ sáu yếu tố sau: 1. Bản chất công việc 2. Đào tạo – Phát triển 3.