chương 1 của luận văn đã trình bày rõ các vấn đề trong bài nghiên cứu như: tính cấp thiết của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của việc nghiên cứu và bố cục của bài luận văn. Qua chương 2 chúng ta tiến hành lược khảo lại những nghiên cứu và các bài viết trước đây để đưa ra các lý thuyết liên quan nhằm mục đích phục vụ cho bài viết. Theo Fama, 1970 Lý thuyết thị trường hiệu quả nói rằng thị trường hoạt động hiểu quả thì giá của cổ phiếu chịu sự tác động của các nhân tố vĩ mô và vi mô. Có thể nói rằng các yếu tố vĩ mô và vi mô có tác động trực tiếp và gián tiếp đến thị trường cổ phiếu đặc biệt là giá của cổ phiếu.
Tuy nhiên, có những thị trường hoặc những nhóm ngành không hiệu quả khi không chịu sự tác động của những yếu tố kinh tế. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu trên thị trường như của Tamimi & ctg (2011) nghiên cứu của ông sử dụng bộ dữ liệu của 17 công ty tại thị trường UAE trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2005 cho thấy hai yếu tố thu nhập trên mỗi cổ phiếu và tỷ lệ tăng trưởng GDP đều có tác động cùng chiều với giá cổ phiếu, chỉ số giá tiêu dùng CPI không có tác động đến giá chứng khoán tại UAE. Lý thuyết của Fisher về lãi suất rất cần thiết cho khuôn khổ lạm phát mục tiêu. Học thuyết là cơ sở cho ý tưởng rằng chính sách tiền tệ chủ yếu nên tập trung vào việc quản lý các kỳ vọng về lạm phát nhằm cố gắng giữ lãi suất thực ổn định.
Điều này nhằm mục đích thúc đẩy tiết kiệm và đầu tư. Khái niệm có quan trọng trong lý thuyết về sự quan tâm của Fisher (1930). Do đó, với tỷ lệ thực yêu cầu, bất kỳ sự gia tăng (hoặc giảm) dự kiến nào trong tỷ lệ lạm phát sẽ dẫn đến tăng (hoặc giảm) lãi suất danh nghĩa thông qua trọng tài giữa tổng tương lai và hiện tại thu nhập. Giá thị trường của cổ phiếu được đo lường một cách hoàn toàn khác so với giá trị sổ sách được ghi nhận trên bảng cân đối của công ty.
Giá trị sổ sách bằng vốn chủ sở hữu trừ đi cổ phiếu ưu đãi. Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu tương đương với giá trị sổ sách chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành. Giá trị sổ sách và giá trị thị trường hiếm khi song hành cùng nhau bởi vì giá trị sổ sách dựa trên số liệu kế toán và không dự tính được thu nhập tiềm năng của công ty trong tương lai. 4 Ngoài ra, tại thị trường Việt Nam có một số nghiên cứu khác cũng khai thác chủ đề này.
Mạnh, (2017) nghiên cứu 359 công ty trong giai đoạn 2012 đến 2016 cho thấy các yếu tố như: chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệ chi trả cổ tức, thu nhập trên mỗi cổ phiếu, tốc độ tăng trưởng GDP có tác động cùng chiều với giá cổ phiếu, tuy nhiên, quy mô của doanh nghiệp thì có tác động ngược chiều đến giá chứng khoán.2 Bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu ngành thép: Chỉ số giá tiêu dùng (hay được viết tắt là CPI, là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian. Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng. Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát Trên thực tế người ta có thể xác định quyền số trong tính toán chỉ số giá tiêu dùng bằng cách điều tra để tính toán tỷ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hoá, dịch vụ so với tổng giá trị chi tiêu. Sau đó quyền số này được dùng để tính chỉ số giá tiêu dùng cho các thời kỳ sau.
CPI thường được tính hàng tháng và hàng năm. CPI còn được tính toán cho từng nhóm hàng hóa hoặc một số nhóm hàng hóa tùy theo mục đích sử dụng. Các nghiên cứu về chỉ số tiêu dùng CPI cho các kết quả không thống nhất với nhau. Tamimi & ctg (2011) đã cho rằng yếu tố này không tác động đến giá cổ phiếu.
Mặc khác, Thùy & Dương (2015) khi thực hiện nghiên cứu với các chỉ số thị trường VnIndex, VN30-Index, MidCap, SmallCap, trong giai đoạn 2009-2014 tại Việt Nam kết quả cho thấy chỉ số giá tiêu dùng CPI có tác động ngược chiều với giá cổ phiếu. Tuy nhiên, Trung, (2016) sử dụng dữ liệu của các ty trên chỉ số thị trường VN-Index vào giai đoạn 2006 đến 2012 và Mạnh, (2017) cùng cho ra kết quả chỉ cố giá tiêu dùng CPI có tác động cùng chiều đối với giá chứng khoán Tốc độ tăng trưởng GDP đo lường tăng trưởng kinh tế liên quan đến tổng sản phẩm quốc nội GDP theo từng thời kì, được điều chỉnh theo lạm phát và được biểu thị theo nghĩa thực, được thực bằng tỉ lệ phần trăm, cho thấy tốc độ thay đổi GDP của một quốc gia, thông thường, từ một năm tới năm tiếp theo. Tốc độ tăng trưởng GDP thay đổi trong 04 giai đoạn của chu kì kinh tế: giai đoạn hưng thịnh, giai đoạn suy thoái, giai đoạn đáy, giai đoạn phục hồi. Tốc độ tăng trường GDP: Kiều & Nhiên (2020) khi thực hiện nghiên cứu trên 9 mã cổ phiếu ngân hàng tại Việt Nam trong 5 giai đoạn 2010-2018 đã đưa ra kết luận tốc độ tăng trưởng GDP có tác động cùng chiều với giá cổ phiếu.
Hai nghiên cứu Mạnh, (2017) và Tamimi & ctg (2011) cũng có kết quả tương tự như Kiều & Nhiên (2020). Quy mô doanh nghiệp là việc phân chia ra thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Việc lựa chọn quy mô khi thành lập doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: Nguồn vốn, khả năng, sở thích, kinh nghiệm… của chủ đầu tư. Quy mô doanh nghiệp: Sharif (2015) thực nghiệm trên 41 công ty giai đoạn 2006-2010 cho thấy quy mô doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến giá cổ phiểu ở thị trường UAE.
Ở thị trường Việt Nam, Thức & ctg (2018) nghiên cứu trên 200 doanh nghiệp trong giai đoạn từ 2013 đến 2017 và Kiều & Nhiên (2020) cho ra kết quả quy mô ngân hàng tác động cùng chiều với giá chứng khoán. Tuy nhiên, Mạnh (2017) cho rằng quy mô doanh nghiệp tác động ngược chiều với giá chứng khoán. Tỷ lệ chi trả cổ tức là tỷ lệ phần trăm (%) giữa Cổ tức bằng tiền chia cho Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp (hay Cổ tức chi trả cho 1 cổ phiếu thường/EPS). Tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ ở mức hợp lý khi 2 vấn đề sau đây được đảm bảo: Thứ nhất, công ty được bổ sung đủ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh.
Thứ hai, công ty đảm bảo vẫn giữ được tỷ suất sinh lợi trên vốn (ví dụ như tỷ lệ ROE). cổ tức một cổ phần thường EPS cổ tức một cổ phần thường Tỷ lệ chi trả cổ tức = (1) EPS Tỷ lệ chi trả cổ tức là tỷ suất sinh lợi mà nhà đầu tư có thể nhận được từ cổ tức nếu mua cổ phiếu ở mức giá hiện tại. Nautiyal & Kavidayal (2018) nghiên cứu tại thị trường Ấn Độ giai đoạn 1995 đến 2014 đối với 30 mã chứng khoán đã kết luận tỷ lệ chi trả cổ tức có tác động ngược chiều với giá cổ phiếu. Tuy nhiên tại Việt Nam Mạnh (2017) cho rằng yếu tố này tác động cùng chiều với giá cổ phiếu.
Lợi nhuận (Thu nhập) trên mỗi cổ phiếu là thước đo mức lợi nhuận mà một công ty đã tạo ra trên mỗi cổ phiếu. Các công ty thường báo cáo EPS theo quý hoặc hàng năm. EPS là phần lợi nhuận của công ty được phân bổ cho mỗi cổ phiếu lưu hành của cổ phiếu phổ thông (common stock) của công ty. Nó được tính bằng cách lấy hiệu của thu nhập ròng sau khi trừ đi chi phí thuế và chi phí lãi vay (net income) của công ty trừ đi cổ tức được thanh toán cho cổ phiếu ưu đãi và sau đó chia cho con số đó bằng số lượng cổ phiếu lưu hành trung bình.
Thu nhập có thể khiến giá cổ phiếu 6 tăng lên, và khi đó, các nhà đầu tư kiếm tiền. Nếu một công ty có thu nhập cao trên mỗi cổ phiếu, điều đó có nghĩa là công ty có nhiều tiền hơn để tái đầu tư vào kinh doanh hoặc phân phối cho cổ đông dưới hình thức trả cổ tức. Trong cả hai trường hợp, các nhà đầu tư hưởng lợi. Khi thu nhập của công ty tăng lên, đó là dấu hiệu cho thấy công ty đang hoạt động tốt về mặt tài chính và đó là khả năng đầu tư đáng giá.
Nhưng như một thước đo về sức khỏe tài chính của công ty, việc tính toán EPS có những hạn chế của nó. Bởi vì các công ty có tùy chọn mua lại cổ phần của mình, họ có thể cải thiện EPS bằng cách giảm số lượng cổ phiếu lưu hành mà không thực sự tăng thu nhập ròng của họ. Về vấn đề này, các công ty chủ yếu có thể thao túng các nhà đầu tư nghĩ rằng họ đang làm tốt hơn thực tế. Hơn nữa, EPS không tính đến các yếu tố như nợ chưa thanh toán của công ty.
Bên cạnh đó, EPS không xem xét số vốn cần thiết để tạo thu nhập được đề cập. Nếu hai công ty báo cáo cùng một khoản EPS nhưng một công ty sử dụng ít vốn hơn để mang lại thu nhập đó, công ty đó có lẽ đang quản lý tài nguyên của mình tốt hơn đối tác của mình. Tuy nhiên, thực tế đó sẽ không được phản ánh trong thu nhập trên mỗi cổ phiếu Thu nhập trên mỗi cổ phiếu cổ phiếu EPS: Lộc, (2014) nghiên cứu trên 20 mã cổ phiếu tại Việt Nam giai đoạn 2005 đến 2012 cho thấy thu nhập trên mỗi cổ phiếu có tác động cùng chiều. Ngoài ra, các bài viết của Tamimi & ctg (2011); Sharif (2015); Mạnh (2017); Thức & ctg (2018); Kiều & Nhiên (2020) đều có đồng quan điểm với nghiên cứu của Lộc (2014).
Chỉ số P/E là viết tắt của Price to Earning Ratio (PER), một số tên gọi khác như tỷ số P/E, Hệ số P/E; Chỉ số P/E là một trong những công cụ để định giá cổ phiếu khi đầu tư chứng khoán Chỉ số P/E chính bằng số năm mà nhà đầu tư hòa vốn khi đầu tư vào doanh nghiệp, nếu lợi nhuận không đổi.