CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ NGHIỆP CỦA PHẬT GIÁO 1. Khái niệm và một số vấn đề về Nghiệp 1. Nghiệp là gì? Mong muốn của các nhà tư tưởng Ấn Độ là tìm ra một đáp án thỏa đáng cho những vấn đề liên quan đến con người. Vấn đề này trong thời đại chúng ta vẫn có tính thời sự cao.
Những vấn đề cụ thể như: tại sao có người sung sướng trong khi có người lại đau khổ, người xấu xí đứng cạnh người đẹp đẽ, người sống thọ phải chứng kiến sự ra đi của người chết trẻ, người gặp không ít rủi ro so đo với người luôn có may mắn. Vì vậy, họ, những nhà tư tưởng, đã có hoài vọng xây dựng một nền “triết học trẻ mãi”, một thứ triết học mà mọi người đều cần đến. Nền triết học ấy có bốn đặc điểm: - Một là, nền triết học ấy đưa nhân loại đạt đến một trạng thái thực tại không sai biệt ở đàng sau thế giới hiện tượng muôn vàn sai biệt (theo Ấn giáo: Brahman; Phật giáo: Niết bàn, Chân như, Phật tính; Đạo giáo: huyền trong cái huyền, cái khởi đầu của vạn vật). - Hai là, mọi người đều có thể nắm bắt được thực tại ấy bằng cảm quan thông thường, không phải bằng tư duy logic; bằng trí tuệ trực nghiệm không phải bằng cảm quan.
Ví như muốn hiểu được ánh sáng thì phải hòa nhập vào ánh sáng chứ không nhận thức về ánh sáng thông qua ánh sáng của người khác. - Ba là, cái Ta thật mà tôn giáo gọi là cái Ta vũ trụ sáng suốt, trùm khắp, thanh tịnh và không còn phiền não là đối tượng ưu tiên đạt được của nền triết học trẻ. - Bốn là, nền triết học trẻ này chủ trương mọi người phải quay về cái Ta thanh tịnh và sáng suốt. Đó là một sự trở về có ý thức và hành động thực tế: sống đạo đức, hướng thượng, vô ngã, vị tha để dần trở thành người hoàn thiện.
Ý nghĩa nhân sinh của nền triết học trẻ này được đánh giá không bằng tiền của, danh vọng mà trước hết là bằng mức độ hoàn thiện nhân cách. Và bốn đặc tính vừa nêu đã phản ánh khá chính xác giá trị của các tôn giáo và triết học Ấn Độ [10, tr. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để có thể tìm lại được những giá trị tinh thần, tâm linh, đạo đức bị đánh mất trong quá trình truy tìm những giá trị vật chất, con người phải trải qua quá trình thực nghiệm tâm linh (không phải quá trình tiếp nhận kiến thức về thực tại). Và đây là phương cách mà người Ấn Độ sử dụng để bổ sung cái nhìn hạn hẹp của họ về thế giới (theo nhà Phật thì gọi là văn - tư - tu).
Thực nghiệm tâm linh hàm nghĩa con người là một chủ thể hòa nhập vào đối tượng để nhận thức nó một cách đúng đắn và đúng như nó. Và các tôn giáo ở Ấn Độ như Phật giáo và Ấn giáo đã tiếp thu một cách sáng tạo triết lý này. Vì thế, xét về cơ bản, các tôn giáo ở Ấn Độ đều có những điểm giáo lý tương đồng: thuyết Nghiệp, thuyết giải thoát, thuyết về một linh hồn thường tại, thuyết nhân sinh là khổ và lý tưởng về một cuộc sống đạo đức. Nói về Nghiệp (Kamma) là một đề tài nghiên cứu lớn của các nhà triết học và tôn giáo, Phật giáo cũng không ngoại lệ.
Nó luôn luôn là đề tài được thảo luận của nhiều nhà nghiên cứu, là vấn đề quan tâm của nhiều người, như con người từ đâu sinh ra và sẽ đi về đâu sau cuộc sống này; tại sao có hạng người sinh trưởng trong cung điện nguy nga, giàu sang vinh hiển, trí tuệ xuất chúng, đạo hạnh thanh cao, thân hình tráng kiện, trong khi ấy có kẻ khác lại phải chịu sống trong cảnh cùng đinh, cơ hàn khốn khổ?; tại sao có người là tỉ phú mà lại có người cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc?; tại sao có người thông minh tuyệt vời và có kẻ tối tăm ngu muội? Tại sao người này được sinh ra với bẩm tính hiền lương của các bậc thánh nhân, người khác lại sẵn nếp hung dữ từ khi lọt lòng mẹ ?; tại sao có hạng thần đồng, thông suốt nhiều thứ tiếng, nhiều phép toán, có hạng thần đồng về khoa hội họa, văn chương, âm nhạc…?; tại sao có những trẻ con vừa sinh ra đã mù, điếc, câm, ngọng hoặc hình thể kỳ dị?; tại sao có những trẻ em vừa mở mắt chào đời đã hưởng mọi phúc đức, sung sướng và có em lại bị xem như một tội khổ? Phải chăng có những nguyên nhân nhất định tạo nên sự chênh lệch trong thế gian?; nếu không, những bất đồng kể trên hẳn là những hiện tượng ngẫu nhiên xẩy ra hoàn toàn do sự may rủi. Đạo Phật không tin vào sự may rủi và không chấp nhận giải thích bằng sự ngẫu nhiên, may rủi. Trong thế gian này, không một điều gì xảy đến cho một người nào mà không có nguyên nhân. Quả vui, quả khổ của những người đang gặt hái đều sinh ra do những nhân tốt hay xấu đã tạo ra hoặc trong kiếp hiện tại 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc trong kiếp quá khứ.
Nhưng với lý trí phàm tục, với sự hiểu biết tùy thuộc nơi giác quan của vật thể, ta không dễ gì thấu triệt những nguyên nhân vô hình và phức tạp của guồng máy thế gian. Ta chỉ thấy biểu hiện trước mắt, cái đang trổ quả mà không thể thấy được tất cả những nguyên nhân vi tế đã sinh quả ấy vì nhân kia không phải hoàn toàn phát sinh trong kiếp hiện tại mà có thể đã nảy sinh, hình thành từ vô lượng kiếp trước. Một số tín ngưỡng tôn giáo chủ trương rằng, tất cả sự khác biệt trong đời đều do một nguyên nhân duy nhất là sự quyết định tối cao của ĐấngTạo Hóa. Đức Phật không chấp nhận có một Đấng Tạo Hóa toàn tri, toàn năng tạo ra càn khôn, vũ trụ.
Những nhà bác học hiện thời thì căn cứ trên những nhận thức của ngũ quan cho rằng, sự bất đồng kia do những nguyên nhân vật lý và hóa học hỗn hợp, do truyền thống và di truyền, v. Chúng ta phải thừa nhận rằng, các hiện tượng lý-hóa mà nhà khoa học hiện đại nêu lên đã giải thích một phần vấn đề. Tuy nhiên, các hiện tượng lý-hóa ấy không thể là nguyên nhân duy nhất quyết định sự khác biệt giữa các cá nhân. Nếu thuyết truyền thống hoàn toàn là đúng, nếu con cái nhất định phải giống cha mẹ, thì sẽ giải thích thế nào trường hợp hai em bé sinh đôi: Hưởng thụ một sinh khí, một thứ gien của cha mẹ, được nuôi dưỡng giống nhau, tại sao bẩm tính của mỗi em lại khác, trí tuệ và tính nết lại càng khác biệt.
Thuyết truyền thống không đủ để giải thích chỗ uẩn khúc sâu rộng của vấn đề chênh lệch trong đời. Đúng ra, thuyết này giải thích những chỗ giống nhau nhiều hơn là chứng minh những điểm dị biệt. Phật giáo cũng thừa nhận có phần ảnh hưởng của yếu tố truyền thống, nhưng cho rằng như vậy là không đủ. Phật giáo bổ sung vào đấy Giáo lý Nghiệp báo, tức là sự tổng hợp các hành động trong quá khứ và hiện tại.
Chính chúng ta phải lãnh phần trách nhiệm về những hành động của chúng ta trong quá khứ và gặt hái sự an vui hay khổ đau trong hiện tại. Chúng ta là người xây dựng tương lai của ta, chính ta tạo cái mà thế gian gọi là “định-mệnh”. Quan điểm về Nghiệp được lý giải, phân tích qua từng giai đoạn phát triển Phật giáo, có tính kế thừa và phát triển riêng của từng Bộ phái. Nhưng cho dù lý giải thế nào đi nữa, điểm lý giải chung nhất của các phái đề cập đến Nghiệp là 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự giải thích mỗi quan hệ giữa Nhân và Quả, là đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân và bình đẳng trong mối quan hệ Nhân và Quả, nêu cao tinh thần độc lập và sự nỗ lực của cá nhân.
Đó là những điều kiện cơ bản để cá nhân thoát khỏi sự nô lệ ý thức, vươn tới đời sống hạnh phúc, là nhân tố để xây dựng đời sống đạo đức và trật tự xã hội. Vì người có ý thức về Nghiệp lực là người có tinh thần trách nhiệm đối với cá nhân và tập thể, là yếu tố cơ bản để ngăn chặn những hành vi phạm pháp. Như vậy, Nghiệp trong Phật giáo có yếu tố tích cực trong việc xây dựng một nếp sống có đạo đức, giúp con người có cuộc sống bình an, xây dựng một gia đình hạnh phúc và một xã hội thịnh vượng, có trật tự, kỷ cương. Vậy Nghiệp là gì ? Chữ Nghiệp dịch từ chữ Karma (Sanskrit) hay Kamma ( Pali).
Kamma có nghĩa là: hành động, hành vi hay sự tạo tác. Tuy nhiên hành động, hành vi hay sự tạo tác này có hai trường hợp là hành động có chủ ý và hành động không có chủ ý. Theo Phật giáo, chỉ có những hành động tạo tác có chủ ý mới thành Nghiệp còn hành động vô ý thì không có Nghiệp. Như vậy, Nghiệp không phải là những hành động của thân, khẩu, ý đơn thuần mà cái quyết định tạo Nghiệp là có chủ ý.
Trong Kinh Annguttana - NiKaya Đức Phật dạy “Này các Tỳ khiêu Như Lai xác nhận rằng Tư-tác chính là Nghiệp”. Tư-tác này chính là Tư-tâm-sở. Từ đó rút ra định nghĩa: Nghiệp là những hoạt động có chủ ý của thân, khẩu, ý hay Nghiệp là những hành động của thân, khẩu, ý được dẫn đầu bởi một Tư-tưởng hay Tư tâm-sở. Tư tưởng, lời nói, việc làm thường theo ý muốn mà phát khởi.
Phật giáo gọi ý muốn hay ý chí ấy là Tư-tác. Tất cả những hành động có Tư-tác, biểu hiện nơi thân, khẩu hay ý, đều tạo Nghiệp. Tất cả những hành động có Tư-tác thiện hay bất thiện đều tạo Nghiệp. Những hành động không cố ý, không có chủ tâm, mặc dầu đã biểu hiện bằng lời nói hay việc làm, đều không tạo Nghiệp.
Tư-tác là yếu tố tối quan trọng để tạo Nghiệp. Thích nghĩa Đạo Phật có một quan niệm rộng về hành động. Vì thế, quan niệm về Nghiệp của Phật giáo cũng hàm chứa ý nghĩa rộng tương tự. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Phật giáo, hành động của mỗi cá nhân đều xuất phát từ thân, khẩu và ý.
Hành động ở nơi thân, thường được gọi là việc làm, và một việc làm có dụng tâm được gọi là Thân-nghiệp (Nghiệp của thân). Lời nói có chủ ý thì gọi là Khẩu-nghiệp (Nghiệp của miệng), và có dụng tâm thiện hay ác là Ý-nghiệp (mặc dù ý nghĩ đó chưa thành lời nói hay hành động).