CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Chúng tôi sử dụng những lý thuyết thuộc chuyên ngành văn hóa học để phân tích và phân loại những thành tố có liên quan đến nghi thức Phật giáo trong tang lễ của người Việt tại Tp. Do đề tài chú trọng trực diện vào phần nghi thức trong tang lễ nên những lý thuyết mà chúng tôi sắp đề cập dưới đây sẽ là phần cơ sở hỗ trợ cho sự biện luận của nghiên cứu. Theo đó, chúng tôi không đi sâu vào việc trình bày lý thuyết vì những vấn đề khoa học này đều đã được các học giả trong lẫn ngoài nước nghiên cứu và trình bày đầy đủ ở những công trình khác. Trong công trình này, chúng tôi chỉ nêu lên những nội dung cơ bản của lý thuyết và những ứng dụng của chúng với nghiên cứu của mình.
Nghi lễ và nghi thức Nghi lễ và nghi thức là hai khái niệm khá tương đồng, trong nhiều trường hợp được sử dụng để mô tả cùng một chuỗi hoạt động. Tuy nhiên, xét trên bối cảnh mà đề tài đang nghiên cứu hai khái niệm này lại có sự khác biệt. Theo Arens (1975) và Grimes (1990) thì nghi thức là các hành động cụ thể của hoạt động nghi lễ trong những khoảng thời gian và không gian cụ thể, thường là các hoạt động do người chủ lễ tiến hành và được người dự lễ quan sát, hưởng ứng (dẫn theo Nguyễn Ngọc Thơ, 2020, tr. Các nghi thức Phật giáo trong tang lễ người Việt bao gồm nhiều phân đoạn diễn ra vào các thời gian khác nhau và mang những tên gọi khác nhau, về sự hình thành của các nghi thức này theo như chúng tôi tìm hiểu được thì đó là một quá trình với những sự chuyển tiếp, thay thế nhau giữa các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Về khái niệm nghi lễ, tác giả Stanley Tambiah đã khái luận nghi lễ là phương thức (hoạt động) thông tin qua hệ thống biểu tượng, bao gồm những chuỗi ngôn từ và hành vi được thể thức và thường quy hóa, tương đối ổn định, có tính cô đọng về mặt ý nghĩa và, đồng thời, ý nghĩa của nhiều hành vi và biểu tượng có hiện tượng trùng lặp nhau (dẫn theo Nguyễn Ngọc Thơ, 2020, tr. Trong quá trình nghiên cứu về nghi lễ ở nhiều nơi trên thế giới, nhà nhân học người Pháp gốc Bỉ Arnold Van Gennep đã nhận ra cấu trúc giống nhau ở một số 14 nghi lễ mà trong đó, vai trò, vị thế, trách nhiệm, nghĩa vụ, thụ hưởng, tư cách của các đối tượng tham gia các nghi lễ trên đã trở nên khác đi so với trước lúc làm lễ. Điều này nói lên rằng trong nhiều cộng đồng trên thế giới, tồn tại những nghi lễ để đánh dấu sự chuyển đổi của các thành viên trong xã hội sang một vai trò mới, chẳng hạn như các lễ thôi nôi, thành niên, cưới hỏi, tang ma v., Arnold Van Gennep gọi những nghi lễ trên là nghi lễ chuyển đổi và định nghĩa chúng là “các nghi thức đi kèm bất kì một sự thay đổi nào về địa điểm, trạng thái, địa vị xã hội và tuổi tác” (dẫn theo Nguyễn Công Hoan, 2010, tr. Thừa kế những thành tựu trong nghiên cứu nghi lễ chuyển đổi của Arnold van Gennep, Victor Turner nhấn mạnh đến “ngưỡng”.
Đây được xem là một lằn ranh chuyển đổi bất phân hóa được cảm thụ một cách trức tiếp bởi những người tham gia nghi lễ. Trạng thái “vượt ngưỡng” xuất hiện khi nghi thức tạo điều kiện về ngưỡng chuyển đổi trong phong tục vòng đời, từ đó, có con người bước vào trạng thái cộng cảm (communitas) khiến cộng đồng tiến gần nhau hơn và cùng chia sẻ những cảm xúc chung mang tính nhân loại vốn không bị các yếu tố xã hội chi phối. Nhờ đó, người thụ hưởng “ngưỡng” trong nghi lễ trải nghiệm được tâm thức mới trong xã hội thoát khỏi sắc thái xã hội và phân biệt xã hội, kéo con người xích lại gần nhau (Nguyễn Ngọc Thơ, 2020). Cũng đề cập đến nghi lễ tương tự trong tôn giáo nguyên thủy, nhà nhân học người Ba Lan Bronislaw Malinowski cho rằng nghi lễ là những hành động sáng tạo của tôn giáo, những hành động này nhằm giải quyết những khủng hoảng tại các giai đoạn sinh lý học của đời sống con người như việc thụ thai, mang thai, sinh nở, trưởng thành, hôn nhân và cái chết, những khủng hoảng đó trở thành trung tâm của nghi lễ và niềm tin, vậy là từ những bước khởi đầu của con người, họ đã được bao bọc trong mớ hỗn tạp không thể gỡ ra được của các niềm tin và lễ nghi (Bronislaw Malinowski, 2006, tr.
Liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài, nghi lễ tang ma hay còn gọi là tang lễ, chúng tôi cho rằng nghi lễ này thuộc nhóm các nghi lễ chuyển đổi mà Radcliffe Brown cho mục đích của chúng là “một dạng phản ứng tập thể nhằm chống lại sự ảnh hưởng của việc một thành viên mất đi sẽ tác động đến cảm thức đoàn kết tập thể nhóm (gia đình, dòng họ)”, qua đó, người còn sống sẽ nỗ lực điều chỉnh lại các nghi thức cho phù hợp với thực tế xã hội là nhóm đã có thành viên qua đời (dẫn theo Nguyễn Ngọc Thơ, 2020, tr. Như vậy, nghi thức là một phần của nghi lễ, nghi thức là một chuỗi hành động được thực hiện bởi sự đồng thuận, nghi lễ cũng là một chuỗi hành động nhưng không chỉ được đồng thuận mà còn được thiêng hóa. Đề tài của chúng tôi chọn nghiên cứu nghi thức Phật 15 giáo thay vì nghi lễ, bởi lẽ nghi lễ này vốn thuộc văn hóa truyền thống Việt Nam, chất Phật giáo chỉ được bổ sung vào để tăng tính trang trọng, thỏa mãn nhu cầu tinh thần ngày càng cao của đại chúng. Phong tục, văn hóa phong tục và quan hệ giữa nghi lễ và văn hóa phong tục Phong tục và văn hóa là hai khái niệm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tùy thuộc vào quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau mà phong tục có thể là văn hóa hoặc là một phần của văn hóa, trong đó, nghi lễ cũng tồn tại như một phần của phong tục mà cộng đồng lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay tồn tại rất nhiều định nghĩa về phong tục. Dương Thị Liễu trong Giáo trình Văn hóa kinh doanh đã cho rằng: “Phong tục, tập quán là những hành vi ứng xử, thói quen, nếp sinh hoạt tương đối ổn định của các thành viên trong nhóm xã hội được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” (Dương Thị Liễu, 2011, tr. Trong công trình Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm đã phân tích khái niệm này theo nghĩa chiết tự với phong là gió, tục là thói quen và từ đó cho rằng: “Phong tục là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo” (Trần Ngọc Thêm, 1996, tr. Trong 101 điều cần biết về tín ngưỡng và phong tục, Trương Thìn đã viết: “Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác (Trương Thìn, 2010, tr.A Radughin đã định nghĩa: “Phong tục – đó là những mẫu hành vi toàn vẹn, quen thuộc, không nhận thức được thật rõ ràng.
Phong tục bao gồm những truyền thống được duy trì và thực hành thông qua các hành động nghi lễ và tôn giáo, mà trong đó nhất thiết phải có những định hướng đạo đức” (A. Mặc dù có rất nhiều quan điểm xoay quanh khái niệm phong tục nhưng có thể rút ra những đặc điểm sau, trước tiên, phong tục là những chuẩn mực hành vi định hướng hành động của con người, đặc trưng này dẫn đến điểm tiếp theo là phong tục được đồng loạt các thành viên trong cộng đồng chấp nhận và sau cùng, đó là những chuẩn mực và sự chấp nhận này được lưu truyền qua nhiều thế hệ hay được lưu giữ trong thời gian dài. Bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và phong tục, đa phần các nhà nghiên cứu đều khẳng định mối quan hệ này là không thể phủ nhận. Nhà nghiên cứu văn hóa học E.Tylor đã thể 16 hiện quan điểm rằng phong tục là một phần của văn hóa khi định nghĩa: “Văn hóa và văn minh hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học, có nghĩa là một tổng thể phức hợp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng và thói quen mà con người đạt tới với tư cách là một thành viên trong xã hội (Tylor, 2019, tr.
Còn theo nhà nghiên cứu A.A Radughin, ông cho rằng phong tục là cơ chế chuẩn mực của hành vi văn hóa, đảm bảo sự hợp tác giữa con người với nhau, trong đó, với các nền văn hóa khép kín phong tục và các chuẩn mực được thể chế hóa và việc tuân theo là bắt buộc, đối với các nền văn hóa mở, có thể tồn tại những chuẩn mực và phong tục khác nhau, điều này làm xuất hiện bầu không khí khoan dung (A. Tại Việt Nam, nhà sử học Đào Duy Anh đã gần như đồng nhất văn hóa và phong tục trong công trình Việt Nam văn hóa sử cương với định nghĩa rằng văn hóa tức là sinh hoạt, dù không trực tiếp chỉ ra sinh hoạt là phong tục nhưng trong quá trình luận bàn ông đã mô tả, phân tích những phong tục của người Việt Nam được lưu truyền qua nhiều đời. Như vậy, mặc dù mối quan hệ giữa phong tục và văn hóa được khẳng định, nhưng các nhà nghiên cứu lại thể hiện những quan điểm khác nhau về mối quan hệ này, xét theo định hướng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi nghiêng về quan điểm của E. Tylor với phong tục như một thành phần của văn hóa.
Bàn về mối quan hệ giữa nghi lễ và phong tục, chúng tôi xin phép đề cập đến khái niệm lễ tục. Theo Grimes (1990), lễ tục (ritual) là thuật ngữ bao hàm cả nghi lễ và phong tục (phong tục mang tính thiêng), theo đó, lễ tục được đặt ngang hàng với phong tục hiểu theo nghĩa rộng và giao nhau ở phần các phong tục mang tính thiêng, nghi lễ và phong tục sẽ tương tác lẫn nhau thông qua các lễ, nghi thức cụ thể (có thể chỉ mang tính xã hội), các lễ thức, lễ nghi mang tính thiêng và các nghi thức lễ nghi “cận ngưỡng” (dẫn theo Nguyễn Ngọc Thơ, 2020, tr.