phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương8 tiết. MOT SO VAN DE CHUNG LIEN QUAN DEN LECH CHUAN TRONG HOAT DONG TIN NGUONG, TON GIAO 1. Một số khái niệm 1. Lệch chuẩn - Khái niệm “Chuẩn mực” Để hiểu rõ khái niệm /ệch chuẩn, trước hết phải hiểu được khái niệm chuẩn/chuẩn mực.
Khái niệm chuẩn mực có nguồn gốc từ tiếng Latinh, có nghĩa là quy tắc, là cái được chọn làm căn cứ đề so sánh, đối chiếu. Chuẩn mực gắn liền với sự đánh giá, phán xét: cái gi phù hợp với chuẩn tức là bình thường, cái gì trái khác với chuẩn là lệch chuan, bat bình thường. Tác giả Hoàng Phê trong Tir điển Tiếng Việt đã định nghĩa: Chuẩn hay chuẩn mực là “cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng”, “cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc theo thói quen trong xã 33 66 hội”, “cái duoc định ra thành tiêu chuẩn”; “chuẩn mực cũng có nghĩa là đúng theo 99, 66 quy định hoặc theo thói quen phô bién”!. Trong Từ điển tâm ly học, tác giả Vũ Dũng cũng định nghĩa: chuẩn mực “là tiêu chuẩn, quy tắc chỉ đạo, quy định, khuôn mẫu”?.
“Thuật ngữ chuẩn mực được dùng trong tâm lý học xã hội (chuẩn mực nhóm, chuẩn mực xã hội), tâm lý học chân đoán (chuẩn mực trắc nghiệm), tâm lý hoc phát triển (chuẩn phát trién),. Chuẩn mực có hai chức năng cơ bản: chức năng đo lường và chức năng điều chỉnh”. Ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, khái nệm chuẩn mực lại được tiếp cận ở những mức độ khác nhau. Chăng hạn, dưới góc độ đạo đức học, chuẩn mực được định nghĩa là “hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi đối với hành vi xã hội của con người, trong đó xác lập vê dao đức đã có từ trước đên nay đêu là sản phâm của tình "Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2003, tr.
Vi Dũng, Ti dién Tâm ly học, Nxb Tù điện bách khoa, Ha Nội, 2008, tr. 3Vũ Ding, Từ điền Tâm lý học, Sdd, tr. hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ. Và vì cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp: hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị, hoặc là khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì nó tiêu biểu cho sự nỗi dậy chống lại sự thống tri nói trên và tiêu biểu cho lợi ích tương lai của những người bị áp bức”.
Dưới góc độ chính tri, thì chuẩn mực lại được hiểu “là hệ thống những quy tắc, yêu cầu được xác lập nhằm điều tiết, điều hoà mối quan hệ chính trị - quyền lực giữa các giai cấp, đảng phái chính trị, các tập hợp chính trị khác nhau trong một xã hội nhất định hoặc xác lập mỗi quan hệ chính tri, bang giao giữa các nhà nước với nhau””. Dưới góc độ thấm mỹ, chuẩn mực được quan niệm là “hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi về mặt thâm mĩ đối với hành vi xã hội của con người, tuân theo những quan điểm, quan niệm đang được phổ biến, thừa nhận trong xã hội về cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài, cái anh hùng, cái tuyệt vời, được xác lập trong các quan hệ thẩm mi, trong hoạt động sang tạo nghệ thuật, trong lối sống và sinh hoạt. của cá nhân, các nhóm xã hội 5. Như vậy, các quan niệm về chuẩn mực khá đa dạng và phong phú.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu luận văn, tác giả tiếp cận khái niệm này ở khía cạnh xã hội học. Ở khía cạnh này, theo tác giả Lưu Song Hà thì “chuẩn mực là cách thức suy nghĩ, biểu lộ tình cảm và hành động của cá nhân hay nhóm. được xã hội chấp nhận”; “chuẩn mực là những quy tắc, quy ước hay những yêu cầu , của xã hội đối với cách thức hành động, ứng xử của cá nhân, được dùng dé kiêm soát, điều chỉnh hành vi của con người. Chuẩn mực xã hội đặt ra những giới hạn có thé (hoặc không thé) và được phép (hoặc không được phép) trong hành vi của cá nhân”.
Tác giả Nguyễn Dinh Tan trong Sai lệch xã hội nhìn từ góc độ xã hội học, định nghĩa: “Chuẩn mực xã hội được hiểu là quy tắc được đa số các thành viên *C, Mác và Ph. Angghen, Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính tri Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. "Ngọ Văn Nhân, Xã hội hoc pháp luật (tái bản lần thứ nhất, có chỉnh sửa, bồ sung), Sdd,tr.
194- Neo Van Nhân, Xã hội học pháp luật (tái ban lần thứ nhất, có chỉnh sửa, bồ sung), Sddtr. Lưu Song Hà (2008), Cách thức cha me quan hệ với con và hành vi lệch chuẩn cua trẻ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, tr. trong xã hội thừa nhận và tuân thu một cách tự giác. Hành vi chuẩn mực xã hội thường được dư luận xã hội ca ngợi, khen thưởng.
Chuẩn mực xã hội quy định tính chất, mức độ, phạm vi, giới hạn của cái có thể, cái cho phép, cái không được phép hoặc cái không bắt buộc, cái bắt buộc phải thực hiện trong hành vi xã hội của mỗi cá nhân nhằm bảo đảm xã hội vận hành một cách bình thường trong trật tự. Cùng với động cơ, hoàn cảnh, chuẩn mực xã hội quy định, chi phối hành vi con người”Š. Tóm lại, trên cơ sở các tài liệu đã nghiên cứu, luận văn cho rằng: Chuẩn mực xã hội là hệ thong các quy tắc, yêu câu, đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân hay nhóm xã hội, trong đó xác định ít nhiều sự chính xác về tính chất, mức độ, phạm vi, giới hạn của cái có thể, cái được phép, cái không được phép hay cái bắt buộc phải thực hiện trong hành vi xã hội của moi nguoi, nham cung có, đảm bdo sự ồn định xã hội, giữ gìn trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội. Nội dung định nghĩa chuẩn mực xã hội nêu trên đề cập những điểm cơ bản sau: Thứ nhất, chuẩn mực xã hội là hệ thống (tập hợp) các quy tắc, yêu cau, đòi hỏi của xã hội, do chính các thành viên của xã hội (thuộc các nhóm xã hội, các giai cấp, tầng lớp xã hội, cộng đồng người.) đặt ra/thừa nhận nhằm “áp đặt” cho hành vi xã hội của mỗi người.
Điều đó nói lên nguồn gốc xã hội của chuẩn mực xã hội - hình thành từ chính nhu cầu điều tiết, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp của đời sống xã hội. Thứ hai, chuẩn mực xã hội không phải là một cái gì đó chung chung, trừu tượng, khó nhận biết, mà nó luôn được xác định một cách cụ thé, rõ ràng ở mức độ ít hay nhiều sự chính xác về tính chất, mức độ, phạm vi và giới han của những khía cạnh, chỉ báo liên quan đến hành vi xã hội của mỗi người; bao gồm cái có thé, cái được phép, cái không được phép hay cái bắt buộc phải thực hiện. Thứ ba, với hệ thống các quy tắc, yêu cầu được đưa ra nhằm định hướng và điều chỉnh hành vi xã hội của con người, chuẩn mực xã hội hướng tới thực hiện các chức năng xã hội: giảm bớt tính hỗn tạp trong các ý kiến, quan điểm đánh giá hành vi; gat đi các bất đồng, mâu thuẫn trong các tranh luận; tránh được những xung đột ‘Nguyén Dinh Tấn, “Sai lệch xã hội nhìn từ góc độ xã hội học”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, sô 2 (111), 2017, tr. 10 không cần thiết; tạo cơ sở, “khuôn mẫu” cho các quá trình hòa giải, thương lượng giữa các cá nhân dé đi đến chấp nhận mẫu số chung nhỏ nhất của mọi hành vi.
Trên cơ sở đó, chuẩn mực xã hội góp phần tao ra Sự đồng thuận, đảm bảo sự 6n định xã hội, giữ gìn, bảo vệ trật tự, kỉ cương, an toàn xã hội. Thông thường, chuẩn mực xã hội được phân chia thành hai loại, gồm chuẩn mực xã hội ¿hành văn và chuẩn mực xã hội bát thành văn. Trong đó, chuẩn mực xã hội thành văn là những loại chuẩn mực xã hội mà các nguyên tắc, quy định của chúng được ghi chép lại thành văn bản dưới những hình thức khác nhau. Trong chuẩn mực xã hội thành văn có ba loại cụ thé là chuẩn mực pháp luật, chuẩn mực chính trị và chuẩn mực tôn giáo.
Còn chuẩn mực xã hội bất thành văn được là những loại chuân mực xã hội mà trong đó các quy tắc, các yêu cầu của nó thường không được ghi chép lại thành các văn bản; chúng chủ yếu tồn tại, phát huy vai trò, hiệu lực của mình thông qua con đường giáo dục truyền miệng và được củng cố, lưu truyền từ thế hệ này sang thé hệ khác. Chang hạn như: chuẩn mực tín ngưỡng; chuẩn mực phong tục, tập quán của mỗi địa phương, hay chuẩn mực thẩm mĩ của mỗi vùng miền. Sự phân loại này là tương đối, vì một số chuẩn mực thuộc nhóm này có thé dung nhập vào nhóm kia, chăng hạn một số chuân mực đạo đức có thé được luật hoá, hoặc một số quy phạm pháp luật nhà nước có thể thé hiện dưới hình thức luật tôn giáo hoặc chuẩn mực đạo đức. - Khái niệm “Lệch chuẩn” Tương tự như khái niệm chuẩn mực, khái niệm lệch chuẩn cũng có nhiều định nghĩa, nhiều cách hiểu khác nhau.
Song nhìn chung, lệch chuẩn được vận dụng phổ biến vào việc nhận diện, đánh giá các hiện tượng xã hội được tìm hiểu trong xã hội học, tâm lý học, văn hóa học, pháp luật, đạo đức, thâm mỹ. Cụ thé, trong các tác phâm nổi tiếng của mình, nhà xã hội học người Pháp E. Durkheim (1858-1917) đã mô tả về mối liên hệ phức tạp giữa tội phạm, sự sai lệch và sự khác biệt. Ông cho rằng, cả ba hiện tượng này đều là sự không tuân theo các 11 chuẩn mực xã hội.
Theo ông, “sự lệch chuẩn là những hành động vi phạm các chuẩn mực và sự mong đợi từ phía xã hội”?.