Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 1.1 Các hướng tiếp cận nghiên cứu đề tài 1.1 Tiếp cận hệ thống Lý thuyết hệ thống ra đời từ những năm 70 của thế kỷ hai mươi với đóng góp của những tác giả L.V Bertalaffy, Ashby, Wiener, Shannon… có vai trò quan trọng trong lĩnh vực khoa học xã hội cũng như khoa học tự nhiên và có thể được coi là lý thuyết liên ngành, có tính ứng dụng cao. Lý thuyết hệ thống tập trung nghiên cứu, phân tích về các nhóm nhỏ và các ứng xử xã hội, trên cơ sở vận dụng các khái niệm chung như chức năng, vai trò. Toàn bộ xã hội được xác định như các hệ thống xã hội và các nhóm cơ bản cụ thể hơn dựa trên một hệ thống có trật tự, có thứ bậc trong hệ thống của nó. Các hệ thống này phải có sự thích nghi, cân bằng và tồn tại độc lập tương đối với nhau.
Các phần tử trong hệ thống có mối quan hệ với nhau theo một quy luật nhất định tạo thành một chỉnh thể và có mối quan hệ với môi trường bên ngoài. Chức năng chính của nó là tập hợp các nhiệm vụ của hệ thống nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó. Vì xã hội là một hệ thống, do đó chúng ta có thể có niềm tin là trật tự thế giới có thể sắp xếp lại theo ý muốn của con người. [6, tr 23] Lý thuyết hệ thống xem xét làng nghề như một hệ thống xã hội trong đó mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội có chức năng, nhiệm vụ khác nhau là cơ sở để cho làng nghề đó tồn tại và thực hiện các chức năng của mình.
Thông qua lý thuyết này, đề tài sẽ xem xét cơ cấu tổ chức phát triển sản xuất kinh tế giữa các nhóm xã hội trong làng, và nó có tác động như thế nào đến môi trường và các mối quan hệ xã hội giữa người tham gia sản xuất làm nghề trống, người không làm nghề và nhà quản lý như thế nào? 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Tiếp cận lịch sử, logic Tiếp cận lịch sử, logic trong nghiên cứu khoa học yêu cầu phải nghiên cứu đối tượng bằng phương pháp lịch sử. Tìm hiểu phát hiện nguồn gốc nảy sinh, quá trình diễn biến và phát triển của đối tượng trong thời gian, không gian với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để tìm ra quy luật tất yếu của sự vật hiện tượng. Trong nghiên cứu phải thống nhất tính lịch sử và tính logic của vấn đề, từ lịch sử tìm ra logic và sự phân tích logic phải dựa trên cơ sở của lịch sử khách quan. Xem xét quá trình lịch sử để tìm ra quy luật tất yếu của sự phát triển lịch sử đó.
Dùng các sự kiện lịch sử để minh họa, chứng minh làm sáng tỏ các luận điểm khoa học các nguyên lý và các kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học khác. Dựa vào các kết luận lịch sử và các quy luật tất yếu, logic khách quan để xây dựng các giải thuyết khoa học và chứng minh các giả thuyết đó, tìm ra những khả năng mới để dự đoán các khuynh hướng phát triển của các sự vật hiện tượng… Vận dụng tiếp cận lịch sử logic vào trong đề tài nghiên cứu giúp tác giả có cái nhìn khách quan, toàn diện đối với vấn để xung đột môi trường tại làng nghề Đọi Tam. Vận dụng các phương pháp thu thập thông tin, kinh nghiệm lịch sử, kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học… để định hướng, tìm hiểu, làm phong phú thêm luận điểm khoa học để giải quyết vấn đề và chứng minh giả thuyết nghiên cứu.3 Lý thuyết lựa chọn hợp lý Lý thuyết lựa chọn hợp lý của James S Coleman (1926 - 1995) cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lý thuyết lựa chọn hợp lý đã được vận dụng rộng rãi trong các quan hệ kinh tế - xã hội.
Theo lý thuyết này, tất cả các hành động của con người đều được con người lựa chọn để mang lại lợi ích cao nhất cho họ, kết quả của hành động phụ thuộc vào nhận thức và kinh nghiệm mà chủ thể có được trong quá khứ [12, tr 445]. Lý thuyết lựa chọn hợp lý được đề tài vận dụng để phân tích quan hệ xã hội giữa những người làm nghề và người không làm nghề là như thế nào? Đứng trước việc tước đoạt lợi thế sử dụng nguồn tài nguyên của nhóm làm nghề truyền thống và hậu quả mà những người không làm nghề phải gánh chịu ra sao? Người tham gia sản xuất làm nghề truyền thống đã làm gì để cải thiện tình hình môi trường và đền bù thiệt hại do việc ô nhiễm môi trường gây ra? Nhóm sản xuất đã tận dụng các nguồn lực của mình để tạo ra lợi ích kinh tế cao nhất mà không quan tâm đến những tổn hại về môi trường và ảnh hưởng của nó đến chính bản thân gia đình mình cũng như những người dân xung quanh. Nhóm quản lý đã lựa chọn những cách ứng xử như thế nào để đáp ứng được những mục tiêu mà các nhóm xã hội trong làng hướng tới? Thông qua lý thuyết này đề tài muốn tìm ra những yếu tố hợp lý để nâng cao trách nhiệm xã hội của nhóm quản lý môi trường đối với người dân trong làng.4 Lý thuyết về xung đột xã hội Xung đột là chủ đề quan trọng của nhiều ngành khoa học khác nhau và nhiều học giả nổi tiếng đã viết về chủ đề này như Karl Marx, Max Weber, George Simmel, Rolf Dahrendorf, Lewis Coser. Mỗi tác giả đều có cách nhìn nhận khác nhau về xung đột.
Karl Marx (1818-1883) đã đưa ra lý thuyết xung đột giai cấp, theo đó với sự phát triển của sự phân công lao động và sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ hình thành các giai cấp khác nhau bên trong một xã hội; sự bất bình đẳng của các giai 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấp này dựa trên vị thế khác nhau của họ trong quá trình sản xuất của xã hội, nhưng trước hết là chiếm hữu hay không chiễm hữu các phương tiện sản xuất như nguyên liệu, máy móc hay đất đai. Nó trở thành lý do cho sự quan tâm khác nhau và đối kháng tới việc nên giữ hay phải thay đổi những dạng thống trị và sở hữu đang tồn tại, nhưng quyền lợi đối kháng này có thể và sẽ thể hiện thành các cuộc đấu tranh giai cấp giữa các giai cấp thống trị và sỡ hữu với giai cấp những người lao động bị loại ra khỏi quyền lực và sỡ hữu [12, tr 41]. Trên nền tảng lý thuyết của Weber, xung đột xã hội có ý nghĩa khác nhau tùy theo chúng dựa trên quyền lợi giai cấp do thị trường môi giới, nhu cầu cách biệt các cộng đồng xã hội hay quyền lợi, quyền lực của các đảng phái. Weber cho rằng nguồn gốc dẫn đến xung đột xã hội là do bất bình đẳng về cơ hội xã hội.
Trong xã hội có nhóm người có uy tín xã hội cao hơn so với nhóm khác, vì thế họ giành được những ưu thế do địa vị xã hội mang lại. Bất bình đẳng về chính trị, cụ thể là những người giữ quyền hành cao trong thang bậc quản lý xã hội, đảng phái chính trị, cầm quyền chiếm được ưu thế so với đảng phải khác [12, tr 53]. Tác giả Simmel cho rằng xung đột không chỉ là kết quả của các cấu trúc xã hội hay những động cơ thiết yếu đối với lịch sử mà nó là một thành tố trung tâm của quá trình xã hội hay nó chính là đối tượng độc lập của việc phân tích xã hội học. Theo tác giả này, thực tại xã hội được hình thành bởi các quá trình kết hợp và phân ly giữa các tập thể, cộng đồng, nghề nghiệp, tôn giáo, quê hương.
Các quá trình đoàn kết của cộng đồng có xu hướng hợp nhất, còn các quá trình phân ly có bản chất đối kháng. Quá trình thống nhất và phân ly, hợp tác và đối kháng là quá trình tất yếu của đời sống xã hội. Tuy nhiên giải thích của Simmel về xung đột xã hội chủ yếu tập trung giải thích xung đột ở cấp độ cá nhân, coi cộng đồng là sự kết hợp của nhiều cá nhân do vậy xung đột các cá nhân tất yếu sẽ dẫn đến xung đột cộng đồng [12, tr 49]. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự phát triển của thuyết xung đột gắn liền với thuyết thống trị và xung đột của Dahrendorf.
Dahrendorf đã phát triển một cương lĩnh lý thuyết xung đột coi xã hội là các quyền hạn được công nhận, là đòi hỏi những người khác phải phục tùng. Khi đó, mỗi hiệp đoàn xã hội hoàn chỉnh đều thể hiện sự bất bình đẳng cơ bản giữa kẻ thống trị và người bị trị, từ đó nảy sinh ra những hoàn cảnh quyền lợi trước việc duy trì hay thay đổi thể chế thống trị hiện hành. Thống trị, xung đột và biến đổi không bao giờ ngừng. Thống trị và xung đột là đặc trưng phổ biến của mọi dạng xã hội.
Đồng thời theo Dahrendorf, nguyên nhân cho thống trị và xung đột được đặt bởi các quá trình thể chế hóa và đặt chuẩn mực mà không phải qua những quan hệ ép buộc giản đơn. Ông cũng chỉ ra tính hai mặt của hiệp đoàn thống trị là tính thông thường của xung đột và sự cần thiết của thể chế hóa. Theo ông, để giải quyết xung đột có thể hướng xung đột theo chiều hướng định sẵn có kế hoạch. Muốn giải quyết hoặc làm giảm bớt xung đột không được bưng bít thông tin [12, tr 185].
Vận dụng lý thuyết xung đột được đề tài vận dụng để lý giải những mâu thuẫn đang tồn tại trong mối quan hệ xã hội giữa các nhóm xã hội ở làng trống Đọi Tam trong khi các nhà quản lý vừa muốn duy trì sự cân bằng và ổn định xã hội vừa muốn thu hút sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định và thực thi quyết định. Người làm nghề hướng đến mục tiêu lợi nhuận và một môi trường ổn định để phát triển, còn người không làm nghề muốn được sống trong môi trường lành mạnh, đảm bảo tốt cho cuộc sống và sức khỏe của họ.2 Khái niệm công cụ 1.1 Khái niệm về môi trường Từ những góc độ tiếp cận khác nhau các tác giả đưa ra những quan niệm về môi trường, chẳng hạn, khi bàn đến khái niệm môi trường, có ý kiến 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.