Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng của Hiệp định EVFTA đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU Chương 4: Thực trạng tác động của các yếu tố ảnh hưởng xuất khẩu sắt thép Việt Nam sang thị trường EU trong bối cảnh thực thi Hiệp định EVFTA Chương 5: Đề xuất giải pháp phát triển cho doanh nghiệp xuất khẩu sắt thép Việt Nam sang thị trường EU. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan nghiên cứu 2. Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến xuất khẩu Việt Nam Theo bài nghiên cứu Tác động của hiệp định thương mại tự do với xuất nhập khẩu Việt Nam: Áp dụng mô hình lực hấp dẫn với các nhân tố cố định (2019) của Huỳnh Thị Diệu Linh và Hoàng Thanh Hiền.
Nhóm tác giả tiến hành ước lượng bằng ba loại mô hình OLS, RE và GM để đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do với xuất nhập khẩu Việt Nam. Dựa trên kết quả tính toán, nhóm tác giả kết luận các biến: kích thước của nền kinh tế các nước đối tác, có chung đường biên giới, độ lớn của thị trường, chi phí thương mại có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam và biến khoảng cách địa lý có tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Nhóm tác giả cũng đóng góp rằng các nghiên cứu trong tương lai sử dụng mô hình trọng lực có thể cân nhắc việc sử dụng biến thiếu sót để tăng độ chính xác cho kết quả ước lượng. Bên cạnh những đóng góp thì hạn chế của nghiên cứu này là chỉ tạm dừng ở việc đánh giá tác động của các FTA đối với xuất nhập khẩu nói chung của Việt Nam mà chưa đi sâu vào các ngành hàng riêng biệt và chia theo từng thị trường khác nhau.
Theo bài viết Áp dụng mô hình trọng lực (Gravity Model) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện của Việt Nam (2016) của Nguyễn Thanh Thúy. Tác giả đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu điện thoại và linh kiện điện thoại của Việt Nam bao gồm: tỷ giá hối đoái thực tế giữa Việt Nam và đơn vị tiền tệ EU, khoảng cách địa lý, GDP của EU, GDP của Việt Nam, khoảng cách kinh tế. Sau khi chạy hồi quy ba mô hình FEM (mô hình ảnh hưởng cố định), pooled OLS (mô hình hồi quy gộp), REM (mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên), tác giả đánh giá như sau: mô hình OLS không đánh giá được ảnh hưởng của biến khoảng cách lên biến phụ thuộc tuy nhiên có độ tin cậy cao hơn mô hình FEM; mô hình REM tồn tại khuyết tật là phương sai số thay đổi. Theo kết quả hồi quy, các biến độc lập: khoảng cách kinh tế, GDP của EU, GDP của Việt Nam có mối quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc xuất khẩu; hai biến độc lập còn lại có ảnh hưởng ngược chiều.
Cuối cùng tác giả kết luận rằng GDP nước xuất khẩu, nhập khẩu, khoảng cách địa lý, khoảng cách kinh tế và rào cản phi thuế quan là những yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến xuất khẩu điện thoại và linh kiện điện thoại. Hạn chế của bài nghiên cứu là trong khi các nghiên cứu trước giải thích 90% mức độ biến động trong kim ngạch xuất khẩu điện thoại thì mô hình của tác giả chỉ giải thích được 59% mức độ biến động do chưa xét đến những yếu tố ảnh hưởng khác như rào cản thương mại, ngôn ngữ…; hai hệ số tỷ giá hối đoái và khoảng cách kinh tế không có ý nghĩa thống kê. 6 Theo báo cáo tổng kết Ứng dụng mô hình trọng lực đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất nhập khẩu gạo Việt Nam (2022) của nhóm tác giả Đặng Thị Anh Thư. Bài viết sử dụng mô hình trọng lực để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu.
Các yếu tố ảnh hưởng được đưa ra gồm: GDP của nước xuất khẩu, GDP của nước nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, độ mở thương mại, khoảng cách và CPI. Kết quả nghiên cứu cho thấy, GDP Việt Nam tăng 1% thì xuất khẩu gạo của Việt Nam sang nước khác tăng 0,0606%; độ mở thương mại tăng 1% thì xuất khẩu gạo của Việt Nam sang nước khác tăng 0,222%; tỷ giá hối đoái tăng 1% thì xuất khẩu gạo sẽ tăng 0,01%; biến khoảng cách tăng 1km tương đương xuất khẩu giảm đi 0,00429%. Bài nghiên cứu mới dừng lại ở việc từng yếu tố độc lập tác động đến giá trị xuất khẩu ra sao mà chưa đánh giá được các sự tương tác của các yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến giá trị xuất khẩu thế nào. Trong bài nghiên cứu Phân tích các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU bằng mô hình trọng lực (2018) của Vũ Bạch Diệp và nhóm tác giả.
Bài viết sử dụng mô hình trọng lực mở rộng để phân tích các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU trong giai đoạn 2005- 2017. Kết quả ước lượng mô hình cho thấy, các yếu tố: GDP, dân số, chất lượng thể chế và việc gia nhập WTO có tác động cùng chiều; các yếu tố: khoảng cách địa lý, khoảng cách công nghệ có tác động ngược chiều tới kim ngạch xuất khẩu. Ngoài ra, yếu tố “lịch sử” có tác động tiêu cực nhưng không có ý nghĩa thống kê. Những kết quả này có thể đưa ra một số khuyến nghị cho chính phủ và các cơ quan thực thi chính sách để thúc đẩy xuất khẩu tới thị trường EU.
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến xuất khẩu sắt thép Theo bài nghiên cứu Ảnh hưởng của tỷ giá VND/USD đến hoạt động xuất nhập khẩu sắt thép tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2010-2014 (2013) của Hoàng Thị Hạnh. Tác giả kiểm định mối quan hệ giữa tỷ giá với trị giá xuất nhập khẩu sắt thép thông qua phân tích định lượng. Dựa trên mô hình hồi quy và kiểm định phần dư cho trị giá xuất khẩu, tác giả kết luận rằng tỷ giá và trị giá xuất khẩu là hai biến đồng liên kết và tỷ giá có ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu. Trong giai đoạn 2010-2014, xuất khẩu sắt thép tăng đáng kể nhờ những chính sách của ngân hàng nhà nước.
Tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp ở cuối bài nghiên cứu. Theo nghiên cứu Ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế quan khi tự do hóa thương mại đến hoạt động xuất khẩu ngành sắt thép (2018) của Lê Thị Kim Chung. Tác giả sử dụng mô hình cân bằng riêng để đánh giá tác động của việc cắt giảm thuế quan theo cam kết của các hiệp định thương mại tự do (FTA), từ đó đánh giá những ảnh hưởng của cắt giảm thuế quan và đề xuất giải pháp. 7 Theo nghiên cứu Factors affecting Indonesia’s iron and steel exports to Singapore (2023) của Dinda Febrila, Syapsan, Cut Endang Kurniasih.
Nhóm tác giả đưa ra những yếu tố ảnh hưởng tới giá trị xuất khẩu sắt thép bao gồm: GDP, lạm phát và tỷ giá hối đoái. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp OLS cho mô hình phân tích hồi quy tuyến tính bội. Kết quả chỉ ra rằng GDP, lạm phát và tỷ giá hối đoái có tác động đáng kể đến giá trị xuất khẩu sắt thép của Indonesia sang Singapore giai đoạn 2006 - 2021. Cụ thể, tổng sản phẩm quốc nội GDP và lạm phát có tác động tích cực, trong khi đó, tỷ giá hối đoái tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu.
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến xuất khẩu Việt Nam trong thời gian thực hiện Hiệp định EVFTA Trong nội dung bài viết Tác động của Hiệp định Thương mại tự do giữ Liên minh châu Âu và Việt Nam ( EVFTA) đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam (2021) của Ngô Thị Mỹ , Phạm Minh Đạt và Đinh Sao Linh theo Tạp chí Khoa học Thương mại số 157/2021 sử dụng các số liệu thứ cấp có liên quan đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU và phương pháp thống kê mô tả kết hợp với phương pháp so sánh thông qua các chỉ tiêu tuyệt đối, chỉ tiêu tương đối nhằm làm rõ bức tranh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU, tác giả đã đưa ra kết luận là khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực đã tạo ra cú hích lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng mà việt Nam có nhiều lợi thế trong sản xuất như nông sản, thủy sản, hàng may mặc, giày dép,. Và ưu đãi lớn nhất mà EVFTA mang lại cho Việt Nam là thuế quan. Tác giả cũng đưa ra được tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các nước EU và đánh giá tác động của EVFTA đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Tuy nhiên bài viết mới chỉ đề cập đến những ngành hàng mũi nhọn của Việt Nam ngoài ra những mặt hàng khác như điện thoại các loại và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử, máy móc thiết bị phụ tùng của Việt Nam chưa được tác giả đề cập đến.
Bài nghiên cứu về Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo tại Việt Nam trong thời gian thực thi hiệp định EVFTA của tác giả Tăng Minh Anh (2021). Với bài viết này tác giả đã trình bày thực trạng và những điểm mạnh- điểm yếu của ngành xuất khẩu gạo Việt Nam trong thời gian thực hiện hiệp định EVFTA, đồng thời cũng chỉ ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam rút ra từ Thái Lan và Ấn Độ. Từ đó đánh giá những yếu tố tác động đến xuất khẩu gạo Việt Nam trong thời gian thực thi hiệp định. Với cách tiếp cận bằng mô hình trọng lực bài viết đã chỉ ra rằng biến dân số có tác động cùng chiều tới kinh ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang EU27, biến khoảng cách tác động ngược chiều, biến hiệp định EVFTA mang lại tác động tích cực, còn lại các biến như chỉ số GDP hay chỉ số thuế xuất khẩu (TAR) đều không ảnh hưởng đến kinh ngạch xuất khẩu ngành gạo tại Việt Nam.
Dựa trên kết quả đó tác giả đưa ra hàm 8 ý và chính sách nhằm nâng cao phát triển nhằm nâng cao ngành xuất khẩu gạo cho cả phía Chính phủ và doanh nghiệp. Trong nội dung bài viết Đánh giá tác động của hiệp định EVFTA đến xuất khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU (2019) của PGS.