PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường thế giới nói chung và Liên minh châu Âu nói riêng đang được xem là định hướng chiến lược hết sức quan trọng của Đảng và Chính phủ trong quá trình tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững. Đặc biệt, Đại hội Đảng XII vừa qua cũng đã nhấn mạnh trong giai đoạn 2016-2020, tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ra thị trường thế giới. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng với các tổ chức khu vực và quốc tế, Việt Nam cũng sẽ phải thực hiện đầy đủ các cam kết, quy định theo các chuẩn mực quốc tế như các quy định về hàng rào kỹ thuật (TBT), hệ thống kiểm dịch động thực vật (SPS), vấn đề sở hữu tuệ, chỉ dẫn địa lý, xuất sứ hàng hóa trong các Hiệp định tự do thương mại thế hệ mới như: CPTPP, EVFTA… đang đặt ra những cơ hội và thách thức đối với việc xuất khẩu hàng hóa nói chung và hàng nông sản nói riêng của Việt Nam.
Trong những thị trường xuất khẩu truyền thống của Việt Nam, Liên minh Châu Âu (EU) với 28 nước thành viên, là một trong những đối tác thương mại lớn nhất thế giới, với quy mô thị trường 18.000 tỉ USD (chiếm 22% tổng GDP toàn cầu), dân số trên 500 triệu người, tổng kim ngạch thương mại hàng năm đạt xấp xỉ 4.000 tỉ USD, cung cấp gần 40% vốn đầu tư ra nước ngoài của thế giới, chiếm thị phần xuất nhập khẩu trong tổng kim ngạch thương mại thế giới là 24,7% xuất khẩu và 21,2% nhập khẩu1… đã và đang hứa hẹn là một thị trường tiềm năng cho xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong bối cảnh EU và Việt Nam đã hoàn tất việc đàm phán và ký kết Hiệp định thương mại tự do (EVFTA), dự kiến có hiệu lực vào đầu năm 2018. Trong thời gian qua, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam nói chung và mặt hàng nông sản chủ lực nói riêng (cafe, cao su, gạo, chè, hồ tiêu và một số loại rau củ quả ) sang thị trường EU đã đạt tốc độ tăng trưởng ở mức cao và ổn định so với các đối thủ cạnh tranh lớn trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Đô, Malaixia, Thái Lan…Cụ thể: đối với mặt hàng cafe, EU là thị trường truyền thống và lớn nhất của Việt Nam với tỷ trọng xuất khẩu chiếm tới 45,3% trong giai đoạn 2006-2017 đạt giá trị trên 800 triệu USD/năm, kim ngạch xuất khẩu rau quả cũng có sự tăng trưởng ấn tượng kim ngạch xuất khẩu rau sang thị trường EU đã tăng 3,68 lần từ mức 33,763 triệu USD năm 2006 lên mức 124,434 triệu USD năm 2017, với tốc độ tăng trưởng bình quân 8,99% trong giai đoạn này trong giai đoạn 2006-20172 …Bên cạnh những thành tựu đã đạt 1 Tradingeconomics (2018), European Union GDP 2017, xem: 6.2018 Tại: <https://tradingeconomics.com/european-union/gdp> 2 Tác giả tổng hợp số liệu từ Trademap - Bản đồ thương mại, Trung tâm thương mại quốc tế (ITC) giai đoạn 2006-2017, truy cập tại: https://www.org/Bilateral_TS.aspx?nvpm được, hoạt động xuất khẩu hàng nông sản chủ lực của Việt Nam vẫn còn những hạn chế và thách thức đang đặt ra như: giá trị gia tăng thấp do chủ yếu là xuất khẩu dạng thô chưa qua chế biến, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu, sự thiếu thông tin và lúng túng trong việc tìm kiếm khách hàng, thiết lập kênh phân phối hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu mặt hàng nông sản chủ lực; chính sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp còn hạn chế, mức độ liên kết trong chuỗi giá trị nông nghiệp còn thấp… cùng với đó, những yêu cầu và quy định khắt khe về nhập khẩu hàng hóa nông sản vào thị trường EU như: Cấm tuyệt đối các sản phẩm nhập khẩu chứa hàm lượng kháng sinh cao, độc hại và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại trong những trường hợp khẩn cấp, cấp và kiểm định hàng hóa nhập khẩu đáp ứng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm… Theo dự báo khả năng mở rộng và tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường vẫn còn dư địa rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam và EU đã hoàn tất việc đàm phán và ký kết Hiệp định thương mại tự do (EVFTA), dự kiến có hiệu lực vào đầu năm 2018. Khi EVFTA có hiệu lực và được triển khai sẽ tạo ra cơ hội cho việc tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện năng lực sản xuất mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam khi hàng rào thuế quan được dỡ bỏ. Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội này, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam phải vượt qua hàng loạt những thách thức đến từ Hiệp định EVFTA cũng như từ trong chính những vấn đề nội tại của các doanh nghiệp Việt Nam: những thách thức về hàng rào kỹ thuật (TBT), hệ thống kiểm dịch động thực vật (SPS), vấn đề sở hữu tuệ, chỉ dẫn địa lý, xuất sứ hàng hóa… hệ thống cơ chế chính sách của nhà nước chưa đồng bộ và đang trong quá trình hoàn thiện; các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản của Việt Nam phần lớn có quy mô vừa và nhỏ với tiềm lực tài chính hạn hẹp, công nghệ sản xuất, biến lạc hậu, trình độ quản lý doanh nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn….
Trong bối cảnh những thách thức và cơ hội đặt ra đối với khả năng thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU vẫn chưa được nghiên cứu và đánh giá một cách cụ thể từ các cơ quan hoạch định chính sách, các hiệp hội và bản thân các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ lực. Chính vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Xuất khẩu hàng nông sản chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU trong bối cảnh triển khai hiệp định thương mại Viêt Nam- EU” sẽ góp phần làm rõ hơn thực trạng xuất khẩu hàng nông sản chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU qua việc đánh giá lợi thế cạnh tranh, những cơ hội và thách thức đặt ra từ đó để xuất định hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU trong bối cảnh Hiệp định thương mại tự do giữa hai bên có hiệu lực. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chủ đề xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường thế giới nói chung và EU nói riêng trong thời gian qua đã và đang thu hút được đông đảo các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Nhìn chung các công trình, đề tài nghiên cứu đã tập trung giải quyết một số các vấn đề liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài như : thực trạng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU, hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam- EU, FTA và tác động của FTA tới xuất khẩu của Việt Nam….trong đó nổi lên một số các công trình tiêu biểu như: 2.
Các công trình nghiên cứu trong nước Nhóm công trình nghiên cứu liên quan thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng chủ lực nói chung sang thị trường EU Nguyễn Thị Thúy Hồng (2014), Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU trong điều kiện tham gia WTO, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà nội. Trong bản luận án này, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động thúc đẩy xuất khẩu đề từ đó xây dựng quy trình và tiêu chí đánh giá chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa. Trên cơ sở đó, tác giả đã tiến hành phân tích thực trạng chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU từ năm 2007 đến nay, đưa ra những đánh giá nhận xét về những thành công và tồn tại trong chính sách thúc đẩy xuất khẩu sang EU. Cuối cùng tác giả đã đề xuất một số nhóm giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU năm 2025 và tầm nhìn 2035.
Nguyễn Quang Thuấn (2010), Những vấn đề kinh tế - chính trị nổi bật giai đoạn 2001-2010, dự báo giai đoạn 2011-2020 và tác động tới Việt Nam, Chương trình cấp Bộ, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2009-2010. Công trình nghiên cứu này đã phân tích những vấn đề chính trị, kinh tế nổi bật giai đoạn 2001-2010 và xu thế và dự báo sự phát triển khu vực đến 2020 qua đó đánh giá những tác động đến quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa EU và Việt Nam. Bộ công thương (2011), Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam thời kỳ 2011-2020 định hướng 2030, Quyết định số 2471/QĐ-TTg [5]. Đây là Đề án được Bộ Công Thương soạn thỏa và được Thủ tướng phê duyệt theo quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/11/2011.
Đề án này đã đề xuất những nội dung cơ bản về quan điểm chiến lược xuất, nhập khẩu, xác định rõ mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, định hướng chung và định hướng cụ thể về ngành hàng, thị trường xuất-nhập khẩu. Trên cơ sở đó, đề án đã tập trung đề xuất 5 nhóm giải pháp chủ yếu để thực hiện chiến lược xuất-nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 bao gồm (phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu; phát triển thị trường, chính sách tài chính-tín dụng-đầu tư; chính sách phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thương mại; đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Gắn với các giải pháp, đề án chiến lược còn xác định lội trình và phân công, phân cấp cho từng chủ thể trong qui trình tham gia chiến lược. Đây là cơ sở pháp lý có tính nguyên tắc về định hướng xuất-nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030.
Trần Chí Thành (2002), Thị trường EU và khả năng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, NXB.