Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng nông sản sang thị trường Australia của công ty TNHH ATL GLOBAL Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng nông sản sang thị trường Australia của Công ty TNHH ATL GLOBAL giai đoạn 2020 - 2022 Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng mặt hàng nông sản sang thị trường Australia của Công ty TNHH ATL GLOBAL 8 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN SANG THỊ TRƯỜNG AUSTRALIA CỦA CÔNG TY TNHH ATL GLOBAL 2. Một số lí thuyết cơ bản về xuất khẩu và năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa 2. Một số lí thuyết về xuất khẩu 2. Khái niệm về xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động đã xuất hiện từ lâu đời, cùng với đó là rất nhiều quan điểm và khái niệm về hoạt động này đã được đưa ra: Xuất khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.
Theo Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (Khoản 1, Điều 28). Một số tác giả đã đưa ra định nghĩa cụ thể về xuất khẩu hàng hoá. Wild (2003) đã nêu quan điểm trong cuốn sách “International Business – The challenges of globalization” rằng “hành động đưa hàng hóa từ quốc gia này sang quốc gia khác thì được coi như là xuất khẩu hàng hóa” Có thể thấy, có nhiều cách hiểu về xuất khẩu hàng hóa, tuy nhiên hiểu một cách khái quát nhất thì xuất khẩu hàng hóa là hàng hóa được sản xuất ở một quốc gia và bán cho người mua ở một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Cơ sở của xuất khẩu hàng hóa là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa (bao gồm hàng hóa vô hình và hữu hình) trong nước.
Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian, có thể được tiến hành trên quy mô quốc gia hoặc nhiều quốc gia. Xuất khẩu hàng hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực và điều kiện kinh tế, từ xuất 9 khẩu hàng tiêu dùng đến phương tiện sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao.
Tất cả những trao đổi như vậy đều nhằm mang lại lợi ích cho các quốc gia liên quan 2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, xuất khẩu đã trở thành một yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế của các quốc gia và doanh nghiệp. Không chỉ giúp các quốc gia gia tăng thu nhập và củng cố vị thế trên trường quốc tế, xuất khẩu còn thúc đẩy sự hợp tác kinh tế và tạo ra những cơ hội mới cho doanh nghiệp ❖ Đối với nền kinh tế thế giới: Sự phát triển nhanh chóng của hoạt động xuất khẩu hiện nay đã mở rộng và củng cố quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia. Quan hệ đối ngoại tốt không chỉ thúc đẩy hoạt động kinh tế mà còn góp phần vào hợp tác chính trị, xây dựng tình hữu nghị bền vững.
Hoạt động xuất khẩu cũng khuyến khích các quốc gia tham gia vào các tổ chức kinh tế và ký kết hiệp định song phương, đa phương, từ đó thu hẹp khoảng cách giữa các nước. Các nước đang phát triển tận dụng cơ hội này để nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế. Hơn nữa, xuất khẩu giúp cân bằng cung cầu toàn cầu, tạo ra sự chuyên môn hóa trong sản xuất. Các quốc gia trao đổi hàng hóa, xuất khẩu sản phẩm có lợi thế và nhập khẩu sản phẩm khó sản xuất, từ đó tối ưu hóa lợi thế của mình và tiết kiệm tài nguyên.
Điều này góp phần gia tăng tổng sản phẩm trên toàn cầu. ❖ Đối với nền kinh tế quốc gia Xuất khẩu đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia, bắt đầu từ việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khi các quốc gia xuất khẩu hàng hóa, họ gia tăng thu nhập quốc dân và đóng góp vào sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ, qua đó làm tăng GDP. Sự tăng trưởng này không chỉ tạo ra lợi ích kinh tế mà còn cải thiện chất lượng sống cho người dân.
Một khía cạnh khác của xuất khẩu là cải thiện cán cân thương mại. Khi một quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, điều này giúp giảm thâm hụt thương mại và tăng dự trữ ngoại tệ. Việc này không chỉ ổn định nền kinh tế mà còn tạo ra cơ hội cho các chính sách phát triển bền vững trong tương lai. 10 Xuất khẩu cũng có tác động tích cực đến thị trường lao động.
Hoạt động này tạo ra nhiều cơ hội việc làm trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và logistics. Khi việc làm tăng lên, tỷ lệ thất nghiệp giảm, qua đó nâng cao đời sống của người lao động và góp phần vào sự phát triển xã hội. Để đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế, các doanh nghiệp buộc phải cải thiện chất lượng sản phẩm và nâng cao hiệu suất sản xuất. Điều này thúc đẩy sự đổi mới và áp dụng công nghệ hiện đại, giúp các ngành kinh tế phát triển mạnh mẽ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Xuất khẩu còn khuyến khích các quốc gia tham gia vào các hiệp định thương mại, tạo điều kiện cho hợp tác kinh tế và chính trị. Những mối quan hệ này không chỉ giúp tăng cường sự ổn định trong khu vực mà còn mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp. Cuối cùng, hoạt động xuất khẩu giúp các doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro bằng cách không chỉ phụ thuộc vào thị trường nội địa. Điều này tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế quốc gia, đồng thời giúp các doanh nghiệp khám phá thị trường mới và đa dạng hóa sản phẩm.
Tóm lại, xuất khẩu không chỉ mang lại nguồn thu quan trọng mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững cho nền kinh tế quốc gia. ❖ Đối với doanh nghiệp Đầu tiên, việc tham gia vào hoạt động xuất khẩu giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường. Khi sản phẩm của họ được tiêu thụ trên thị trường quốc tế, doanh nghiệp có cơ hội tăng doanh thu và lợi nhuận một cách đáng kể. Điều này không chỉ giúp củng cố vị thế tài chính của doanh nghiệp mà còn tạo ra động lực để đầu tư vào phát triển sản phẩm và công nghệ.
Thứ hai, xuất khẩu thúc đẩy đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm. Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, doanh nghiệp buộc phải cải tiến chất lượng hàng hóa và dịch vụ. Việc này không chỉ giúp họ nâng cao khả năng cạnh tranh mà còn khuyến khích sự sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới trong quy trình sản xuất. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu cũng giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro.
Khi chỉ phụ thuộc vào thị trường nội địa, doanh nghiệp dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động kinh tế, chính trị trong nước. Xuất khẩu giúp giảm thiểu rủi ro này bằng cách 11 cho phép doanh nghiệp tiếp cận nhiều thị trường khác nhau, từ đó tạo ra nguồn doanh thu ổn định hơn. Ngoài ra, việc tham gia vào hoạt động xuất khẩu còn giúp doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và nâng cao uy tín trên thị trường toàn cầu. Sản phẩm được xuất khẩu thường mang lại giá trị gia tăng và giúp doanh nghiệp khẳng định được chất lượng và thương hiệu của mình, từ đó thu hút thêm khách hàng và đối tác.
Cuối cùng, xuất khẩu còn tạo ra cơ hội hợp tác và phát triển mối quan hệ với các đối tác quốc tế. Những mối quan hệ này không chỉ giúp doanh nghiệp mở rộng mạng lưới kinh doanh mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ công nghệ, kiến thức và kinh nghiệm. Như vậy , xuất khẩu không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn giúp doanh nghiệp phát triển bền vững, nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng cơ hội hợp tác trên thị trường toàn cầu. Một số lí thuyết về năng lực cạnh tranh xuất khẩu 2.
Khái niệm về cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh thường được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành sản phẩm hay quốc gia. Tùy vào mục tiêu nghiên cứu khác nhau người ta có thể đưa ra các khái niệm khác nhau về cạnh tranh. Có nhiều cách tiếp cận để đưa ra khái niệm cạnh tranh, điển hình là một số quan niệm như sau: Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (tái bản năm 1997): “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. Ở đây tác giả muốn truyền đạt rằng Cạnh tranh là quá trình các nhà sản xuất, thương nhân và nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh với nhau để giành lấy các cơ hội sản xuất, tiêu thụ và thị trường thuận lợi, chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ cung – cầu.
Mục tiêu của cạnh tranh là tối ưu hóa lợi ích và điều kiện kinh doanh. Marx (1987): “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nghĩa là cạnh tranh là quá trình các nhà tư bản (doanh nhân) cạnh tranh khốc liệt với nhau để giành các điều kiện thuận lợi 12 trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, nhằm tối đa hóa lợi nhuận, đặc biệt là lợi nhuận siêu ngạch (lợi nhuận vượt trội so với mức bình thường).