Chương 1. Một số vấn đề lý luận về xuất khẩu lao động và tổng quan về thị trường EU. Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường EU. Phương hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường EU.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG EU 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến xuất khẩu lao động Trong đời sống xã hội, con người thường di chuyển chỗ ở và nơi làm việc bởi nhiều nguyên nhân và mục đích khác nhau, với các khoảng cách xa gần và vào các thời điểm khác nhau. Hiện tượng này thường được gọi là di cư hay di dân.
Trong luận văn này, tác giả đề nghị được thống nhất gọi hiện tượng di chuyển chỗ ở và nơi làm việc là di dân. Quá trình di dân bị tác động bởi nhiều nhân tố kinh tế - xã hội. Xã hội phát triển, hiện tượng di dân cũng phát triển theo và ngày càng trở nên phổ biến. Nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng di dân, song mỗi công trình có mục tiêu nghiên cứu khác nhau, dẫn tới khái niệm di dân cũng được định nghĩa dưới nhiều giác độ khác nhau.
Tuy nhiên có thể hiểu khái quát: Di dân là quá trình di chuyển của con người qua biên giới của vùng lãnh thổ này hay vùng lãnh thổ khác kèm theo hiện tượng di chuyển chỗ thường trú (thay đổi tạm thời hoặc không). Nếu sự di chuyển đó chỉ diễn ra trong phạm vi từng nước thì gọi là di dân nội địa. Còn nếu sự di chuyển đó thoát ra khỏi phạm vi mỗi quốc gia, mang tính chất liên quốc gia thì gọi là di dân quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay, di dân quốc tế thường gắn liền với quá trình di chuyển lao động từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển, từ các nước đông dân, nghèo tài nguyên đến các nước giàu tài nguyên và thưa dân.
Số lao động này không chỉ bao gồm những nhân công làm việc giản đơn mà còn gồm cả những lao động “chất xám”, những chuyên gia, tạo nên hiện 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tượng “chảy máu chất xám” từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển. Di chuyển quốc tế sức lao động là hiện tượng người lao động ra nước ngoài nhằm mục đích tìm kiếm việc làm, bán sức lao động để kiếm sống. Khi ra khỏi một nước, người lao động thường được gọi là người xuất cư, còn sức lao động của người đó được gọi là sức lao động xuất khẩu. Khi đến một nước khác, người lao động đó được gọi là người nhập cư và sức lao động của người đó được gọi là sức lao động nhập khẩu.
Từ những hoạt động di chuyển quốc tế sức lao động tự phát, đơn lẻ đã trở thành những trào lưu di dân quốc tế. Ngày nay, khi di chuyển lao động quốc tế đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến thì thuật ngữ xuất khẩu lao động cũng được sử dụng một cách rộng rãi. Xuất khẩu lao động là sự di chuyển quốc tế sức lao động có chủ đích, có mục đích và được pháp luật cho phép. Xuất khẩu lao động là một hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế đối ngoại, là một hình thức đặc thù của hoạt động xuất khẩu nói chung, trong đó hàng hóa đem xuất là sức lao động sống của người lao động.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động tất yếu khách quan của quá trình di chuyển các yếu tố đầu vào của sản xuất. Nó được dùng để chỉ một lĩnh vực hoạt động kinh tế của một quốc gia có các tổ chức kinh tế thực hiện nhiệm vụ cung ứng lao động cho các tổ chức kinh tế của một nước khác có nhu cầu sử dụng lao động nhập khẩu. Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động xuất khẩu lao động được thực hiện chủ yếu trên cơ sở quan hệ cung - cầu hàng hóa sức lao động. Xuất khẩu lao động được đề cập đến trong luận văn này là sự dịch chuyển lao động và chuyên gia đến làm việc có thời hạn ở nước ngoài (sau đây được gọi chung là xuất khẩu lao động) có tổ chức, hợp pháp thông qua những Hiệp định Chính phủ, hoặc các tổ chức kinh tế được cấp giấy phép 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt động cung ứng và tiếp nhận lao động, hoặc thông qua các hợp đồng nhận thầu khoán công trình hoặc đầu tư ở nước ngoài.
Xuất khẩu lao động ở các nước phát triển: Các nước này có xu hướng gửi lao động kỹ thuật cao sang các nước chậm phát triển, đang phát triển để thu thêm ngoại tệ. Trường hợp này có thể hiểu là đầu tư chất xám có mục đích, nhằm mục tiêu thu hồi lại một phần chi phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần khác là phát huy năng lực chuyên gia, công nhân kỹ thuật bậc cao để tăng thu ngoại tệ, tìm kiếm lợi nhuận ở nước ngoài. Xuất khẩu lao động ở nước chậm phát triển và xuất khẩu lao động ở nước đang phát triển: Các nước này có xu hướng gửi lao động phổ thông và lao động tay nghề bậc trung và bậc cao sang các nước nhập khẩu lao động để thu tiền công, tăng thu nhập và tích lũy ngoại tệ. Mặt khác, để giảm bớt sức ép về nhu cầu việc làm trong nước.
Mối quan hệ giữa các nước xuất khẩu lao động và nhập khẩu lao động thể hiện qua sơ đồ sau: Các nƣớc xuất khẩu lao động Các nƣớc phát triển Các nƣớc đang phát triển Chuyên CNKT Đội ngũ Cán bộ Lao động Lao gia lành CNKT kỹ kỹ thuật động cao cấp nghề theo thuật đơn giản dịch vụ ngành trung cấp Các nƣớc phát triển Các nƣớc đang phát triển Các nƣớc nhập khẩu lao động Sơ đồ 1. Các loại lao động với các nước xuất 8 khẩu và nhập khẩu lao động 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Di dân quốc tế theo các hướng trên, thường gắn liền với việc hoạch định chính sách xuất khẩu lao động của mỗi quốc gia. Việt Nam cũng là một trong những nước đang phát triển có định hướng chiến lược xuất khẩu lao động. Trong các thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đã đưa hàng trăm ngàn lao động sang làm việc có thời hạn tại Liên Xô cũ và các nước Đông Âu.
Khi đó, chúng ta sử dụng cụ từ “Hợp tác lao động quốc tế có thời hạn" thay vì “xuất khẩu lao động" theo tính chất liên kết kinh tế và chính trị, theo sự phân công hợp tác lao động giữa các nước XHCN. Hiện nay, xuất khẩu lao động được coi là một hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta để tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Các hình thức xuất khẩu lao động: Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo một trong các hình thức sau đây [15]: 1. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; 2.
Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; 3. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề; 4. Hợp đồng cá nhân. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Xuất khẩu lao động là xu thế tất yếu khách quan 1.Một số nguyên nhân dẫn đến xuất khẩu lao động Sự phát triển không đồng đều về lực lượng sản xuất và kinh tế - xã hội, cũng như là sự phân bố không đồng đều về tài nguyên thiên nhiên và dân số giữa các quốc gia đã dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia về các yếu tố sản xuất. Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc giải quyết tình trạng mất cân đối nói trên được tiến hành thông qua thị trường quốc tế, trong đó thị trường lao động quốc tế là thị trường các yếu tố đầu vào quan trọng của nhiều nước trong nhiều thập kỷ qua. Sau đây chúng ta hãy xem xét một số nguyên nhân dẫn đến xuất khẩu lao động (Sơ đồ 1. Những biến động về nhu cầu sức lao động: Di dân quốc tế Nhập cƣ Xuất cƣ Lực lƣợng lao động Di dân quốc tế tự do Di dân quốc tế có tổ chức Các Các tổ chức tổ chức phi Chính phủ chính phủ Di dân quốc tế và xuất khẩu lao động có tổ chức Môi Chiến Kinh tế Chính trị Khác trƣờng tranh Sơ đồ 1.
Di dân quốc tế và xuất khẩu lao động có tổ chức 10 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những biến động về nhu cầu sức lao động là nguyên nhân khách quan gây nên xuất khẩu lao động. Trước hết là do những biến động bất thường về nhu cầu sức lao động. Hay nói cách khác, tính chất không đồng đều của quá trình tích lũy tư bản làm nảy sinh sự cần thiết phải có sự trao đổi quốc tế về hàng hóa sức lao động. Trên cơ sở số lớn các hiện tượng di dân quốc tế, nhiều lý thuyết về di dân đã được khái quát, trong đó đáng kể nhất là lý thuyết "lực đẩy - lực hút" do Ravenstien (1889) là người đầu tiên đưa ra khi phân tích các dòng dân di cư chạy từ Ai-len sang nước Anh hồi đầu thế kỷ XIX, đã cho rằng các yếu tố "lực hút" quan trọng hơn các yếu tố "lực đẩy".
Khi đó, nông dân bị tước đoạt hết ruộng đất, đồng thời nước Anh lại cần nhiều lao động trong các xí nghiệp công nghiệp, thu nhập của công nhân cao hơn so với thu nhập của nông dân, đây chính là "lực hút" và là nguyên nhân có di cư sang Anh. Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế ngày càng gia tăng giữa các nước Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời không chỉ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mà còn dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng giữa tầng lớp chủ sở hữu tư liệu sản xuất và người lao động trong mỗi quốc gia.