Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Khái niệm và các hình thức xuất khẩu lao động 1. Khái niệm - Một số thuật ngữ cơ bản Di cư lao động là một hiện tượng xã hội đã diễn ra từ rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người.
Việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài, thường được gọi là “Di cư lao động quốc tế”, là một hoạt động bình thường. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng di cư lao động quốc tế song nguyên nhân kinh tế vẫn là chủ yếu. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, lao động di cư là một phần không thể tách rời giữa các nền kinh tế. Dưới đây là một số thuật ngữ liên quan đến di cư lao động quốc tế: + Di cư: sự di chuyển của một người hay một nhóm người, kể cả qua một biên giới quốc tế hay trong một quốc gia.
Là một sự di chuyển dân số, bao gồm bất kể loại di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân; nó bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và những người di chuyển vì những mục đích khác, trong đó có đoàn tụ gia đình [10, tr. + Di cư trong nước: sự di chuyển người từ nơi này sang nơi khác trong một đất nước nhằm tạo lập một nơi cư trú mới. Việc di cư này có thể là tạm thời hoặc lâu dài. Người di cư trong nước di chuyển nhưng vẫn trong phạm vi nước gốc (ví dụ từ nông thôn ra thành thị) [10, tr.
64] + Di cư quốc tế: sự di chuyển của những người rời nước gốc hoặc nước cư trú thường xuyên để tạo lập cuộc sống mới tại nước khác, kể cả tạm thời hoặc lâu dài. Vì thế họ phải vượt qua một biên giới quốc tế [10, tr. - 11 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Di cư lao động: sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc. Phần lớn các quốc gia đều quy định vấn đề di cư lao động trong Luật Di cư.
Ngoài ra, một số quốc gia còn đóng vai trò tích cực trong việc điều tiết di cư lao động ra nước ngoài và tìm kiếm cơ hội việc làm cho công dân họ ở nước ngoài [10, tr. + Người lao động di cư: một người đã, đang và sẽ tham gia một hoạt động được trả công tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân” [16, tr. Theo thuật ngữ này có thể hiểu họ phải chứng minh rằng mình có giấy tờ hợp pháp khi họ được phép vào, ở lại và tham gia làm một công việc được trả lương tại quốc gia nơi có việc làm theo pháp luật quốc gia đó và theo những hiệp định quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Như vậy, bất cư sự di chuyển nào của người lao động từ nước này sang nước khác để làm việc đều được gọi chung là lao động di cư, không phân biệt đối tượng tham gia.
Tuy nhiên, với cách hiểu như vậy, thuật ngữ lao động di cư chỉ phán ánh biểu hiện bề ngoài sự di chuyển của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo bất kỳ hình thức nào, chưa thể hiện được bản chất của nó là quá trình mua bán sức lao động giữa người lao động và người thuê lao động. Đồng thời, có sự hiểu ngầm của người lao động là sự di dân đối với việc làm, sẽ không phân biệt các trường hợp di chuyển hợp pháp và sự di chuyển bất hợp pháp của người lao động. Di cư lao động quốc tế thường được thể hiện dưới 2 hình thức là di cư tự do và di cư có tổ chức. Điểm mới trong di cư lao động quốc tế ngày nay là sự di cư có tổ chức, người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và có sự can thiệp của Chính phủ các quốc gia liên quan.
Lao động di cư đáp ứng sự thiếu hụt lao động trong các giai đoạn cụ thể của nhu cầu thị trường, là hàng hoá nhập khẩu đối với đất nước nhận lao động và là hàng hoá xuất khẩu đối với nước đưa lao động đi (phái cử). - 12 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Hợp tác quốc tế về lao động: bao gồm các hoạt động đưa người lao động Việt Nam sang nước khác làm việc, cung cấp lao động cho nước ngoài sử dụng ngay trong nước và tiếp nhận lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc. Hợp tác quốc tế về lao động đã được nhắc đến trong Nghị quyết số 362/CP ngày 19/11/1980 của Hội đồng Chính phủ về “hợp tác sử dụng lao động với các nước xã hội chủ nghĩa” và tiếp theo đó được ghi nhận tại Chỉ thị số 108/HĐBT ngày 30/6/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về việc mở rộng hợp tác lao động và chuyên gia với nước. + Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi là người lao động đi làm việc ở nước ngoài) là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng [9, tr.
Về cơ bản, người Việt Nam đi ra nước ngoài theo hầu hết các loại hình di cư như: di cư lao động, hôn nhân - gia đình, du học…; trong đó, nổi bật nhất là di cư lao động. Việt Nam là đất nước đang phát triển, dân số đông, hàng năm có trên 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động. Nền kinh tế chưa đủ sức tạo đủ việc làm nên sức ép giải quyết việc làm không nhỏ. Bên cạnh đó là tác động của các chính sách đổi mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nên cũng có nhiều người phải rời dây truyền sản xuất, tìm việc làm mới.
Do đó, chủ trương đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là một kênh giải quyết việc làm hiệu quả, là một hướng đi quan trọng. Từ năm 1980, Việt Nam đã đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài thông qua các Hiệp định hợp tác lao động ký giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ các nước tiếp nhận lao động (các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế trước đây). Trong giai đoạn 1980 - 1990, Chính phủ trực tiếp đứng ra tổ chức đưa lao động ra nước ngoài (Bộ Lao động trước đây, nay là Bộ Lao động - Thương - 13 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com binh và Xã hội thực hiện đưa lao động; Ban Hợp tác chuyên gia của Chính phủ thực hiện đưa chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài). Từ năm 1991, cơ chế đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng có thay đổi.
Chính phủ chỉ thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động này, từ đó bắt đầu hình thành, xuất hiện khái niệm “Xuất khẩu lao động”. Các Doanh nghiệp có giấy phép hoạt động trực tiếp đứng ra tổ chức thực hiện việc đưa lao động trong đi làm việc ở nước ngoài trong khổ khổ quy định của Luật pháp hiện hành. + Xuất khẩu lao động (XKLĐ): Xuất khẩu lao động nói chung thường diễn ra dưới hai hình thức chủ yếu là XKLĐ trực tiếp và XKLĐ tại chỗ. XKLĐ tại chỗ là hình thức người lao động được tuyển dụng vào làm việc cho các doanh nghiệp hay tổ chức nước ngoài hoạt động ngay trên đất nước của người lao động, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này tác giả chỉ đề cập đến hình thức XKLĐ trực tiếp, tức là hình thức đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài [7, tr. Như vậy, có thể nói xuất khẩu lao động được hiểu như là công việc đưa người lao động từ một nước nào đó đi lao động tại nước khác có nhu cầu thuê mướn, sử dụng lao động. + Lao động xuất khẩu: đề cập đến người lao động của một nước có độ tuổi, sức khỏe và kỹ năng lao động khác nhau được đưa đi làm việc ở nước ngoài theo các quy định của pháp luật nước đó. - Đặc điểm của XKLĐ: quan điểm về xuất khẩu lao động ở những nước khác nhau cũng có những điểm khác nhau.
Với Việt Nam, XKLĐ được coi là một hoạt động đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại. Hàng hoá đem xuất khẩu là sức lao động của con người và người mua là chủ sử dụng lao động nước ngoài. Hay nói cách khác thì xuất khẩu lao động là hoạt động mua - bán hàng hoá sức lao động nội địa cho người sử dụng lao động nước ngoài. Như vậy, xuất khẩu lao động xét về mặt kinh tế là một loại hình dịch vụ - 14 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cung cấp loại hàng hóa đặc biệt là sức lao động.
Nó chứa đựng đầy đủ tính chất, yêu cầu của loại hàng hóa đặc biệt, đó là hoạt động của con người, tổng hòa các mối quan hệ xã hội. + Người sử dụng lao động nước ngoài ở đây là Chính phủ nước ngoài, cơ quan, tổ chức kinh tế nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động trong nước. + Hàng hoá sức lao động nội địa: lực lượng lao động trong nước sẵn sàng cung cấp sức lao động của mình cho người sử dụng lao động nước ngoài. + Hoạt động mua - bán: thể hiện ở chỗ người lao động trong nước sẽ bán quyền sử dụng sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nhất định cho người sử dụng lao động nước ngoài để nhận về một khoản tiền dưới hình thức tiền lương (tiền công); còn người sử dụng nước ngoài sẽ dùng tiền của mình mua sức lao động của người lao động, yêu cầu họ phải thực hiện công việc nhất định nào đó (do hai bên thoả thuận) theo ý muốn của mình.