Luận văn thạc sĩ về xuất khẩu lao động của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2020

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueb xuất khẩu lao động của tỉnh phú thọ giai đoạn 2011 2020, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2012

113
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

1.1. Một số vấn đề lý luận chung về xuất khẩu lao động

1.2. Khái niệm và các hình thức xuất khẩu lao động

1.3. Vai trò của xuất khẩu lao động

1.4. Quan điểm, mục tiêu và định hướng chính sách của Việt Nam về xuất khẩu lao động

1.5. Mục tiêu, nhiệm vụ

1.6. Định hướng chính sách

1.7. Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

1.8. Kinh nghiệm XKLĐ của một số nước, địa phương

1.8.1. Kinh nghiệm quốc tế

1.8.2. Kinh nghiệm trong nước

1.9. Bài học kinh nghiệm

2. CHƯƠNG 2: DỰ BÁO KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2011 – 2020

2.1. Nhu cầu sử dụng lao động của các nước

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến XKLĐ

2.3. Thực trạng XKLĐ của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001 – 2010

2.4. Về thị trường XKLĐ

2.5. Khả năng XKLĐ của Việt Nam

2.6. Khả năng XKLĐ của tỉnh Phú Thọ

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP

3.1. Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đẩy mạnh XKLĐ của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 - 2020

3.2. Nhiệm vụ chủ yếu

3.3. Một số giải pháp đẩy mạnh XKLĐ của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2012 - 2020

3.4. Đề xuất, kiến nghị

3.4.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về XKLĐ ở trung ương

3.4.2. Đối với cơ quản quản lý nhà nước về XKLĐ tỉnh Phú Thọ

3.4.3. Đối với doanh nghiệp/tổ chức làm dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

3.4.4. Đối với người lao động

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về xuất khẩu lao động tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 2020

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2011-2020. Tỉnh Phú Thọ, với vị trí địa lý thuận lợi và nguồn lao động dồi dào, đã khai thác tối đa tiềm năng này để tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân. Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài đã tăng trưởng đáng kể, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nhiều gia đình. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để phát triển bền vững hoạt động XKLĐ.

1.1. Tình hình xuất khẩu lao động tại Phú Thọ

Trong giai đoạn 2011-2020, tỉnh Phú Thọ đã đưa hàng ngàn lao động đi làm việc ở nước ngoài. Các thị trường chủ yếu bao gồm Malaysia, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên, chất lượng lao động vẫn còn hạn chế, dẫn đến việc chưa khai thác hết tiềm năng của tỉnh.

1.2. Chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động

Chính phủ và tỉnh Phú Thọ đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ cho người lao động như đào tạo nghề, cung cấp thông tin thị trường lao động và hỗ trợ tài chính. Những chính sách này đã giúp nâng cao nhận thức và khả năng tiếp cận thị trường lao động quốc tế cho người dân.

II. Thách thức trong xuất khẩu lao động tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 2020

Mặc dù có nhiều thành tựu, nhưng hoạt động XKLĐ tại Phú Thọ vẫn gặp phải nhiều thách thức. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động quốc tế. Nhiều lao động thiếu kỹ năng và ngoại ngữ, dẫn đến khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm ở nước ngoài. Hơn nữa, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp trong việc tuyển chọn và đào tạo lao động còn hạn chế.

2.1. Chất lượng nguồn nhân lực

Nhiều lao động từ Phú Thọ chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng nghề nghiệp và ngoại ngữ, dẫn đến việc khó khăn trong việc cạnh tranh với lao động từ các tỉnh khác. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm việc làm và thu nhập của họ.

2.2. Thị trường lao động hạn chế

Thị trường xuất khẩu lao động của tỉnh Phú Thọ chủ yếu tập trung vào một số quốc gia, như Malaysia và Trung Đông. Điều này tạo ra rủi ro cho người lao động khi thị trường lao động ở các quốc gia này có thể biến động bất ngờ.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu lao động tại Phú Thọ

Để nâng cao hiệu quả của hoạt động XKLĐ, tỉnh Phú Thọ cần áp dụng một số phương pháp như tăng cường đào tạo nghề, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng thị trường lao động. Việc hợp tác với các doanh nghiệp và tổ chức quốc tế cũng là một giải pháp quan trọng để tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động.

3.1. Đào tạo nghề và ngoại ngữ

Tỉnh cần đầu tư vào các chương trình đào tạo nghề và ngoại ngữ cho lao động. Việc này không chỉ giúp nâng cao kỹ năng mà còn tăng khả năng cạnh tranh của lao động trên thị trường quốc tế.

3.2. Mở rộng thị trường lao động

Cần tìm kiếm và mở rộng các thị trường lao động mới, đặc biệt là các quốc gia có nhu cầu cao về lao động có tay nghề. Điều này sẽ giúp giảm thiểu rủi ro cho người lao động và tăng cơ hội việc làm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về xuất khẩu lao động

Nghiên cứu về xuất khẩu lao động tại Phú Thọ đã chỉ ra rằng, việc áp dụng các chính sách hỗ trợ và đào tạo nghề đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài tăng lên đáng kể, đồng thời thu nhập của họ cũng được cải thiện. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để điều chỉnh các chính sách cho phù hợp.

4.1. Kết quả đạt được từ xuất khẩu lao động

Số liệu cho thấy, trong giai đoạn 2011-2020, tỉnh Phú Thọ đã đưa được hàng ngàn lao động đi làm việc ở nước ngoài, góp phần nâng cao thu nhập cho nhiều gia đình. Điều này đã giúp cải thiện đời sống và giảm tỷ lệ nghèo đói trong cộng đồng.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các địa phương khác

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các địa phương khác có những mô hình thành công trong XKLĐ mà Phú Thọ có thể học hỏi. Việc áp dụng các mô hình này có thể giúp tỉnh nâng cao hiệu quả hoạt động XKLĐ trong tương lai.

V. Kết luận và dự báo tương lai về xuất khẩu lao động tỉnh Phú Thọ

Xuất khẩu lao động sẽ tiếp tục là một trong những giải pháp quan trọng để giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân tỉnh Phú Thọ trong tương lai. Tuy nhiên, để đạt được điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người lao động. Dự báo rằng, nếu các chính sách và giải pháp được thực hiện hiệu quả, tỉnh Phú Thọ sẽ có nhiều cơ hội để phát triển hoạt động XKLĐ trong những năm tới.

5.1. Dự báo về nhu cầu lao động quốc tế

Theo các chuyên gia, nhu cầu lao động quốc tế sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới, đặc biệt là ở các quốc gia phát triển. Điều này mở ra nhiều cơ hội cho lao động từ Phú Thọ.

5.2. Định hướng phát triển xuất khẩu lao động

Tỉnh Phú Thọ cần xác định rõ định hướng phát triển XKLĐ, tập trung vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng thị trường lao động. Việc này sẽ giúp tỉnh tận dụng tốt hơn các cơ hội từ thị trường lao động quốc tế.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Khái niệm và các hình thức xuất khẩu lao động 1. Khái niệm - Một số thuật ngữ cơ bản Di cư lao động là một hiện tượng xã hội đã diễn ra từ rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người.

Việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài, thường được gọi là “Di cư lao động quốc tế”, là một hoạt động bình thường. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng di cư lao động quốc tế song nguyên nhân kinh tế vẫn là chủ yếu. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, lao động di cư là một phần không thể tách rời giữa các nền kinh tế. Dưới đây là một số thuật ngữ liên quan đến di cư lao động quốc tế: + Di cư: sự di chuyển của một người hay một nhóm người, kể cả qua một biên giới quốc tế hay trong một quốc gia.

Là một sự di chuyển dân số, bao gồm bất kể loại di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân; nó bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và những người di chuyển vì những mục đích khác, trong đó có đoàn tụ gia đình [10, tr. + Di cư trong nước: sự di chuyển người từ nơi này sang nơi khác trong một đất nước nhằm tạo lập một nơi cư trú mới. Việc di cư này có thể là tạm thời hoặc lâu dài. Người di cư trong nước di chuyển nhưng vẫn trong phạm vi nước gốc (ví dụ từ nông thôn ra thành thị) [10, tr.

64] + Di cư quốc tế: sự di chuyển của những người rời nước gốc hoặc nước cư trú thường xuyên để tạo lập cuộc sống mới tại nước khác, kể cả tạm thời hoặc lâu dài. Vì thế họ phải vượt qua một biên giới quốc tế [10, tr. - 11 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Di cư lao động: sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc. Phần lớn các quốc gia đều quy định vấn đề di cư lao động trong Luật Di cư.

Ngoài ra, một số quốc gia còn đóng vai trò tích cực trong việc điều tiết di cư lao động ra nước ngoài và tìm kiếm cơ hội việc làm cho công dân họ ở nước ngoài [10, tr. + Người lao động di cư: một người đã, đang và sẽ tham gia một hoạt động được trả công tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân” [16, tr. Theo thuật ngữ này có thể hiểu họ phải chứng minh rằng mình có giấy tờ hợp pháp khi họ được phép vào, ở lại và tham gia làm một công việc được trả lương tại quốc gia nơi có việc làm theo pháp luật quốc gia đó và theo những hiệp định quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Như vậy, bất cư sự di chuyển nào của người lao động từ nước này sang nước khác để làm việc đều được gọi chung là lao động di cư, không phân biệt đối tượng tham gia.

Tuy nhiên, với cách hiểu như vậy, thuật ngữ lao động di cư chỉ phán ánh biểu hiện bề ngoài sự di chuyển của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo bất kỳ hình thức nào, chưa thể hiện được bản chất của nó là quá trình mua bán sức lao động giữa người lao động và người thuê lao động. Đồng thời, có sự hiểu ngầm của người lao động là sự di dân đối với việc làm, sẽ không phân biệt các trường hợp di chuyển hợp pháp và sự di chuyển bất hợp pháp của người lao động. Di cư lao động quốc tế thường được thể hiện dưới 2 hình thức là di cư tự do và di cư có tổ chức. Điểm mới trong di cư lao động quốc tế ngày nay là sự di cư có tổ chức, người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và có sự can thiệp của Chính phủ các quốc gia liên quan.

Lao động di cư đáp ứng sự thiếu hụt lao động trong các giai đoạn cụ thể của nhu cầu thị trường, là hàng hoá nhập khẩu đối với đất nước nhận lao động và là hàng hoá xuất khẩu đối với nước đưa lao động đi (phái cử). - 12 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Hợp tác quốc tế về lao động: bao gồm các hoạt động đưa người lao động Việt Nam sang nước khác làm việc, cung cấp lao động cho nước ngoài sử dụng ngay trong nước và tiếp nhận lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc. Hợp tác quốc tế về lao động đã được nhắc đến trong Nghị quyết số 362/CP ngày 19/11/1980 của Hội đồng Chính phủ về “hợp tác sử dụng lao động với các nước xã hội chủ nghĩa” và tiếp theo đó được ghi nhận tại Chỉ thị số 108/HĐBT ngày 30/6/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về việc mở rộng hợp tác lao động và chuyên gia với nước. + Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi là người lao động đi làm việc ở nước ngoài) là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng [9, tr.

Về cơ bản, người Việt Nam đi ra nước ngoài theo hầu hết các loại hình di cư như: di cư lao động, hôn nhân - gia đình, du học…; trong đó, nổi bật nhất là di cư lao động. Việt Nam là đất nước đang phát triển, dân số đông, hàng năm có trên 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động. Nền kinh tế chưa đủ sức tạo đủ việc làm nên sức ép giải quyết việc làm không nhỏ. Bên cạnh đó là tác động của các chính sách đổi mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nên cũng có nhiều người phải rời dây truyền sản xuất, tìm việc làm mới.

Do đó, chủ trương đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là một kênh giải quyết việc làm hiệu quả, là một hướng đi quan trọng. Từ năm 1980, Việt Nam đã đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài thông qua các Hiệp định hợp tác lao động ký giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ các nước tiếp nhận lao động (các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế trước đây). Trong giai đoạn 1980 - 1990, Chính phủ trực tiếp đứng ra tổ chức đưa lao động ra nước ngoài (Bộ Lao động trước đây, nay là Bộ Lao động - Thương - 13 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com binh và Xã hội thực hiện đưa lao động; Ban Hợp tác chuyên gia của Chính phủ thực hiện đưa chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài). Từ năm 1991, cơ chế đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng có thay đổi.

Chính phủ chỉ thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động này, từ đó bắt đầu hình thành, xuất hiện khái niệm “Xuất khẩu lao động”. Các Doanh nghiệp có giấy phép hoạt động trực tiếp đứng ra tổ chức thực hiện việc đưa lao động trong đi làm việc ở nước ngoài trong khổ khổ quy định của Luật pháp hiện hành. + Xuất khẩu lao động (XKLĐ): Xuất khẩu lao động nói chung thường diễn ra dưới hai hình thức chủ yếu là XKLĐ trực tiếp và XKLĐ tại chỗ. XKLĐ tại chỗ là hình thức người lao động được tuyển dụng vào làm việc cho các doanh nghiệp hay tổ chức nước ngoài hoạt động ngay trên đất nước của người lao động, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này tác giả chỉ đề cập đến hình thức XKLĐ trực tiếp, tức là hình thức đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài [7, tr. Như vậy, có thể nói xuất khẩu lao động được hiểu như là công việc đưa người lao động từ một nước nào đó đi lao động tại nước khác có nhu cầu thuê mướn, sử dụng lao động. + Lao động xuất khẩu: đề cập đến người lao động của một nước có độ tuổi, sức khỏe và kỹ năng lao động khác nhau được đưa đi làm việc ở nước ngoài theo các quy định của pháp luật nước đó. - Đặc điểm của XKLĐ: quan điểm về xuất khẩu lao động ở những nước khác nhau cũng có những điểm khác nhau.

Với Việt Nam, XKLĐ được coi là một hoạt động đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại. Hàng hoá đem xuất khẩu là sức lao động của con người và người mua là chủ sử dụng lao động nước ngoài. Hay nói cách khác thì xuất khẩu lao động là hoạt động mua - bán hàng hoá sức lao động nội địa cho người sử dụng lao động nước ngoài. Như vậy, xuất khẩu lao động xét về mặt kinh tế là một loại hình dịch vụ - 14 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cung cấp loại hàng hóa đặc biệt là sức lao động.

Nó chứa đựng đầy đủ tính chất, yêu cầu của loại hàng hóa đặc biệt, đó là hoạt động của con người, tổng hòa các mối quan hệ xã hội. + Người sử dụng lao động nước ngoài ở đây là Chính phủ nước ngoài, cơ quan, tổ chức kinh tế nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động trong nước. + Hàng hoá sức lao động nội địa: lực lượng lao động trong nước sẵn sàng cung cấp sức lao động của mình cho người sử dụng lao động nước ngoài. + Hoạt động mua - bán: thể hiện ở chỗ người lao động trong nước sẽ bán quyền sử dụng sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nhất định cho người sử dụng lao động nước ngoài để nhận về một khoản tiền dưới hình thức tiền lương (tiền công); còn người sử dụng nước ngoài sẽ dùng tiền của mình mua sức lao động của người lao động, yêu cầu họ phải thực hiện công việc nhất định nào đó (do hai bên thoả thuận) theo ý muốn của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ