phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau: Chƣơng 1: Xuất khẩu lao động và kinh nghiệm xuất khẩu lao động nữ của một số nƣớc. Chƣơng 2: Thực trạng xuất khẩu lao động nữ của Việt Nam sang thị trƣờng Đông Bắc Á. 4 Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp mở rộng xuất khẩu lao động nữ của Việt Nam sang thị trƣờng Đông Bắc Á. 5 CHƢƠNG 1: XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG NỮ CỦA MỘT SỐ NƢỚC 1.
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG NỮ 1. Khái niệm chung về xuất khẩu lao động 1. Xuất khẩu lao động và một số khái niệm liên quan Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế khách quan của thời đại, là quá trình vận động theo hướng mở rộng các hoạt động kinh tế trong phạm vi một quốc gia sang phạm vi khu vực hoặc toàn thế giới. Trong bối cảnh đó, di cư lao động giữa các nước đã trở thành hiện tượng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội quốc tế, là một phần không thể tách rời giữa các nền kinh tế.
Di cư lao động quốc tế là hiện tượng đã có từ xa xưa, đặc biệt phát triển mạnh từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho đến nay. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng di cư lao động quốc tế như: ảnh hưởng của môi trường sống khắc nghiệt, kỳ thị chủng tộc, mâu thuẫn tôn giáo, đói nghèo. nhưng lý do kinh tế vẫn là nguyên nhân chủ yếu. Để nghiên cứu và làm rõ khái niệm XKLĐ, trước hết cần đề cập tới một số khái niệm có liên quan sau: Thị trường lao động quốc tế: bao gồm tất cả các thị trường lao động của các nước trên thế giới xét về mặt lãnh thổ cũng như cung - cầu lao động.
Trong thị trường lao động quốc tế cũng có thể phân mảng ra các thị trường lao động khác nhau như: Thị trường lao động khu vực (thị trường lao động khu vực Bắc Mỹ, Nam Mỹ, .), thị trường lao động theo Hiệp hội, Liên minh (thị trường lao động Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), thị trường lao động EU (Liên minh Châu Âu)…, Di dân quốc tế: là hiện tượng trong đó người lao động ở quốc gia này sang một quốc gia khác có kèm theo việc thay đổi chỗ ở tạm thời hoặc vĩnh viễn nhằm thực hiện các mục đích khác nhau ở nước ngoài. 6 Lao động di cư: chỉ người lao động di chuyển từ nước này sang nước khác để tìm việc làm, nằm trong phạm trù chung là di dân quốc tế. Thực ra trong di dân quốc tế còn bao hàm cả những vấn đề lớn hơn khái niệm này để chỉ rõ những người hoặc dòng người di chuyển từ nước này sang nước khác với nhiều lứa tuổi khác nhau, trong số đó có một bộ phận thuộc lực lượng lao động. Xuất khẩu lao động: là hình thức di chuyển lao động từ thị trường lao động nước này (hoặc vùng lãnh thổ này) sang một thị trường lao động nước khác (hoặc vùng lãnh thổ khác), để cung cấp dịch vụ lao động cho nước nhập khẩu và giải quyết công ăn việc làm cho lao động nước xuất khẩu.
Trên bình diện quốc tế, XKLĐ thường liên quan đến những khái niệm như: Lao động nhập cư (dùng để chỉ những người lao động từ nước ngoài tới một nước nào đó để làm việc), lao động xuất cư (dùng để chỉ những người lao động ra đi từ một nước nào đó tới nước mà họ lao động) hay lao động xuất khẩu (là khái niệm nói về bản thân người lao động hoặc một tập thể người lao động, có những độ tuổi khác nhau, sức khoẻ và kỹ năng lao động khác nhau được đưa đi làm việc ở ngoài nước theo các quy định pháp luật của nước đó). Như vậy, XKLĐ xét theo ý niệm của dân số học thì đó cũng là một quá trình di dân quốc tế. Các dòng XKLĐ trên thị trường lao động quốc tế hiện nay gồm có: Luồng lao động từ các nước công nghiệp sang các nước đang phát triển: chủ yếu là do các doanh nghiệp ở các nước công nghiệp cử chuyên gia đến công tác tại các nhà máy họ đầu tư ở các nước đang phát triển, còn gọi là sự chuyển giao trong nội bộ công ty. Những luồng lao động này đóng một vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển.
Luồng lao động có kỹ năng từ các nước đang phát triển di chuyển sang các nước công nghiệp: Luồng lao động này hoạt động rất có hiệu quả 7 trong các ngành nghề như công nghệ thông tin, giáo dục, y tế, xây dựng, nông nghiệp… Luồng lao động không có kỹ năng từ các nước đang phát triển sang các nước công nghiệp: Luồng lao động này đem lại những khoản lợi nhuận cao hơn cho các nước nhập khẩu lao động. Đồng thời, nó có vai trò quan trọng trong giải quyết công ăn, việc làm và tạo thu nhập cho người lao động ở các nước dư thừa lao động phổ thông, góp phần giảm thất nghiệp của nước XKLĐ. Xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ, hoạt động XKLĐ của Việt Nam trong thời gian qua có quá trình phát triển riêng. Với chủ trương đổi mới được xác định từ Đại hội VI của Đảng, thị trường lao động trong nước được hình thành và phát triển.
Với tư duy mới - khẳng định sức lao động là một loại hàng hoá được đánh giá là một bước ngoặt quan trọng quyết định sự phát triển của thị trường lao động trong nước, mở ra một khả năng phát triển trong công tác XKLĐ với quy mô, nội dung, hình thức tổ chức, hiệu quả hoàn toàn khác với giai đoạn trước đó. Đặc điểm của xuất khẩu lao động. XKLĐ là một hoạt động mang tính kinh tế - xã hội sâu sắc. Ở nhiều nước trên thế giới, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết việc làm cho lực lượng lao động, thu ngoại tệ bằng hình thức chuyển tiền về nước của người lao động và các lợi ích khác.
Những lợi ích này thúc đẩy các nước tăng cường đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chiếm lĩnh thị phần ở thị trường lao động ngoài nước. Việc chiếm lĩnh thị phần này lại dựa trên khả năng xúc tiến quan hệ với nước ngoài, nguồn nhân lực trong nước và chịu sự điều tiết của quy luật cung – cầu về lao động. Như vậy, việc quản lý Nhà nước, sự điều chỉnh Pháp luật luôn luôn phải bám sát đặc điểm này của hoạt động đưa người 8 lao động đi làm việc ở nước ngoài để mục tiêu kinh tế phải là trọng tâm của các chính sách pháp luật về hoạt động này. Đưa người lao động ra nước ngoài làm việc là hoạt động gắn liền với cuộc sống của người lao động.
Do đó, mọi chính sách pháp luật về vấn đề này phải kết hợp với các chính sách xã hội khác, phải đảm bảo cho người lao động được hưởng đầy đủ những quyền lợi cũng như việc thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng lao động. Mặt khác, người lao động đi làm việc ở nước ngoài là theo hợp đồng có thời hạn, do đó cần có chính sách tiếp nhận và sử dụng sau khi họ trở về nước, giúp người lao động nhanh chóng hoà nhập trở lại với đời sống xã hội trong nước. XKLĐ là hoạt động có sự kết hợp hài hoà giữa vai trò quản lý của Nhà nước và sự chủ động, chịu trách nhiệm của tổ chức kinh tế đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đối với XKLĐ trong cơ chế thị trường, Nhà nước tiến hành đàm phán, thỏa thuận với nước tiếp nhận về đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho người lao động; quy định những nội dung, điều kiện cơ bản của hợp đồng; quy định những nghề, công việc không được làm và khu vực không được đến làm việc; hướng dẫn quy trình, thủ tục đăng ký hợp đồng; giám sát kiểm tra việc thực hiện hợp đồng và quản lý người lao động của doanh nghiệp.
Như vậy, trên thực tế, Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động hợp tác lao động, vừa trực tiếp quản lý người lao động đang làm việc ở nước ngoài. Trong khi đó, các doanh nghiệp chủ động tìm kiếm hợp đồng ở các thị trường đã có và một số thị trường mới, nỗ lực trong công tác tạo nguồn và hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về việc tuyển chọn, quản lý người lao động, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế trong hoạt động của mình. Ngoài ra, các cơ quan đại diện của Nhà nước ở nước ngoài còn tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp và người lao động trong việc can thiệp và giải quyết các tranh chấp 9 phát sinh. Tuy nhiên, sự can thiệp này không chỉ dựa vào cơ quan đại diện của Nhà nước ở nước sở tại mà cần có vai trò chủ động, tích cực của doanh nghiệp XKLĐ vì nhiều trường hợp quốc gia XKLĐ chưa lập cơ quan đại diện ngoại giao ở nước sở tại đó.
Như vậy, các Hiệp định, các thoả thuận song phương chỉ có tính chất nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm của Nhà nước trong việc định hướng, mở đường và quản lý ở tầm vĩ mô. Hoạt động XKLĐ diễn ra trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tính cạnh tranh gay gắt này xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu sau: Một là, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài mang lại lợi ích kinh tế lớn cho các nước đang có khó khăn về giải quyết việc làm cho người lao động. Điều đó buộc các nước này phải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường lao động ngoài nước.
Nghĩa là họ phải đầu tư nhiều cho chương trình xúc tiến tìm kiếm thị trường, tăng cường đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hai là, việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đang diễn ra trong một môi trường mà các nền kinh tế - xã hội có nhiều biến động cả ở trong khu vực và trên thế giới. Nhiều nước trước đây nhận nhiều lao động ngoài nước như Hàn Quốc, Nhật Bản… đang phải đối đầu với nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng. Nhu cầu tiếp nhận lao động của các nước ngày càng có nguy cơ giảm xuống.
Khi cung hơn cầu thì sự cạnh tranh ngày càng gay gắt là điều hiển nhiên. Hoạt động XKLĐ có nhiều biến động lớn và rủi ro cao.