phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; luận văn được kết cấu thành 3 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trƣờng Mỹ. - Chƣơng 2: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trƣờng Mỹ. - Chƣơng 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trƣờng Mỹ. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGÀNH DỆT MAY XUẤT KHẨU VIỆT NAM 1.
Cơ sở lý luận Những nhân tố quan trọng tác động tới thành công của một ngành sản phẩm đã được các nhà kinh tế học nổi tiếng của thế giới đề cập và phân tích trong các mô hình lý thuyết về lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh quốc gia và chuỗi giá trị. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo Năm 1817, nhà kinh tế học người Anh – David Ricardo (1772-1783) đã nghiên cứu và chỉ ra rằng chuyên môn hóa quốc tế sẽ có lợi cho tất cả các quốc gia và gọi kết quả này là quy luật lợi thế so sánh – là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế, khi các quốc gia tập chung chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất hoặc những mặt hàng có lợi lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi. Để xây dựng quy luật lợi thế so sánh, David Ricardo đã đưa ra một số giả thiết làm đơn giản hóa mô hình trao đổi trong mậu dịch, các giả định đó là: - Thế giới chỉ có hai quốc gia và chỉ sản xuất 2 lợi sản phẩm - Mậu dịch tự do - Lao động có thể chuyển dịch tự do trong một quốc gia nhưng không có khả năng chuyển dịch giữa các quốc gia - Chi phí sản xuất là cố định - Không có chi phí vận chuyển - Chi phí sản xuất được đồng nhất với tiền lương Từ đó có thể tóm tắt nội dung lý thuyết lợi thế so sánh bao gồm: - Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì: phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác thông qua con đường thương mại quốc tế.
- Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác. Để có thể hiểu rõ hơn, ví dụ chúng ta xem khả năng trao đổi sản phẩm giữa Việt Nam và Mỹ đối với hai sản phẩm là Thép và Quần áo, trong đó Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nước.1: Chi phí sản xuất và lợi thế tuyệt đối Chi phí lao động Sản phẩm Mỹ Việt Nam Thép (1 đơn vị) 4 24 Quần áo (1 đơn vị) 10 12 Nguồn: Tham khảo Giáo trình Kinh tế Quốc tế của Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2012. Qua bảng số liệu cho thấy Mỹ cần ít lao động để sản xuất cả 2 mặt hàng, do đó, Việt Nam không có khả năng xuất khẩu sản phẩm nào sang Mỹ. Song nếu chúng ta phân tích theo giá cả tương đối giữa 2 hàng hóa này, thì lại khác: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Giá tƣơng đối và lợi thế so sánh Giá tương đối Mỹ Việt Nam Thép/Quần áo 0,4 2 Quần áo/Thép 2.5 0,5 Nguồn: Tham khảo Giáo trình Kinh tế Quốc tế của Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2012.
Nhận xét theo giá tương đối giữa thép và quần áo thì Việt Nam có lợi thế hơn trong sản xuất quần áo, còn Mỹ có lợi thế hơn trong sản xuất thép. Nếu Mỹ sử dụng 10 đơn vị lao động để sản xuất ra 2,5 đơn vị thép (thay vì 1 đơn vị quần áo) và nếu tỉ lệ trao đổi quốc tế bằng đúng giá tương đối của Việt Nam (1 đơn vị thép trao đổi được 2 đơn vị quần áo) thì khi trao đổi 2,5 đơn vị thép với Việt Nam, Mỹ sẽ có 5 đơn vị quần áo (tăng lợi ích thêm 4 đơn vị quần áo). Ngược lại, nếu Việt Nam sử dụng 24 đơn vị lao động để sản xuất 2 đơn vị quần áo (thay vì 1 đơn vị thép) và trao đổi với Mỹ thì Việt Nam sẽ có 5 đơn vị thép (với tỷ lệ trao đổi bằng giá tương đối tại Mỹ: 1 đơn vị quần áo trao đổi được 2,5 đơn vị thép). Như vậy Mỹ cũng thu được lợi ích tăng thêm là 4 đơn vị thép.
Điều này cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể xuất khẩu quần áo sang Mỹ và nhập khẩu thép từ họ. Khi đó, cả 2 quốc gia đều tăng được thêm lợi ích từ trao đổi thương mại. Mô hình của David Ricardo cho thấy lợi ích khi các quốc gia trao đổi thương mại: các quốc gia sẽ xuất khẩu các mặt hàng mà họ sản xuất tương đối có hiệu quả hơn và nhập khẩu các mặt hàng mà họ sản xuất tương đối kém hiệu quả. Chiến lược phát triển kinh tế theo hướng thị trường mở cửa hội nhập đang mở ra cho xuất khẩu Việt Nam nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít thách thức.
Vì thế, Việt Nam cần biết những lợi thế so sánh của mình để từ đó phát 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huy, nhằm gia tăng giá trị xuất khẩu của hàng Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Mô hình kim cương của Michael Porter Trong tác phẩm ''Lợi thế cạnh tranh quốc gia” vào năm 1990, Michael Porter vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Viên kim cương”. Theo Michael Porter không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành. Các quốc gia chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó.
Khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của quốc gia đó. Khả năng cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của 4 nhóm yếu tố. Các nhóm yếu tố điều kiện đó bao gồm: - Điều kiện về các yếu tố đầu vào sản xuất - Điều kiện về nhu cầu: - Các ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp có liên quan - Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành Cả bốn yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh tranh của một quốc gia. Ngoài bốn yếu tố chính kể trên còn có hai yếu tố nữa là vai trò của Chính phủ và Cơ hội kinh doanh.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chiến lược, cơ cấu Cơ hội và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành Các điều kiện Các điều kiện đầu vào sản xuất nhu cầu Các ngành hỗ trợ và có liên quan Chính phủ Biểu 1.1: Mô hình kim cƣơng của Michael Porter Nguồn: Tham khảo sách “Chiến lược cạnh tranh quốc gia” của Michael Porter, Nxb DT Books và Nxb Trẻ Điều kiện về các yếu tố đầu vào sản xuất. Michael Porter phân các nhân tố đầu vào thành hai nhóm: các nhân tố sản xuất cơ bản và các nhân tố sản xuất tiên tiến. Các nhân tố sản xuất cơ bản bao gồm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất đai, nguồn lao động chưa qua đào tạo hoặc đào tạo giản đơn, vốn, các điều kiện về khí hậu, vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng. Một số quốc gia xuất khẩu sẽ sử dụng nhiều các yếu tố đầu vào cơ bản mà họ có sẵn và tạo lập được lợi thế cạnh tranh ban đầu.
Các nhân tố sản xuất tiên tiến còn gọi là các yếu tố chuyên sâu là những yếu tố do mỗi quốc gia tạo ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lao động có kỹ năng cao hoặc các yếu tố chuyên môn hóa, kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Các nhân tố này thường được hình thành trên cơ sở 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhóm các yếu tố cơ bản thông qua các hoạt động đào tạo và cơ chế khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới và phát triển.Porter, các nhân tố tiên tiến có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững hơn so với các yếu tố cơ bản. Điều kiện về nhu cầu. Thị trường là nơi quyết định cao nhất năng lực cạnh tranh của một quốc gia.
Thị trường trong nước cũng như nước ngoài có những đòi hỏi cao về sản phẩm sẽ là động lực thúc đẩy các công ty thường xuyên cải tiến và đổi mới sản phẩm nếu các công ty này muốn tồn tại và phát triển. Các sản phẩm được sản xuất ra được tiêu chuẩn hóa ngày càng cao và có tính chất quốc tế. Vì vậy, các yêu cầu đặt ra đối với thị trường nội địa sẽ càng ngày càng cao gắn với nhu cầu của thị trường quốc tế, tác động tích cực đến việc tạo lợi thế cạnh tranh cho ngành tại một quốc gia. Nhóm các ngành hỗ trợ và có liên quan.
Khả năng cạnh tranh của một ngành nói riêng và khả năng cạnh tranh của một quốc gia nói chung phụ thuộc rất lớn vào các ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp có liên quan bởi vì các công ty này nằm trong ngành không thể tồn tại một cách tách biệt với các công ty của các ngành công nghiệp khác. Các ngành công nghiệp hỗ trợ thường là các ngành cung cấp các đầu vào cho ngành có khả năng cạnh tranh cao. Khi một ngành công nghiệp nổi lên với khả năng cạnh tranh hùng mạnh thì sẽ làm xuất hiện một loạt các ngành hỗ trợ và các ngành có liên quan đến ngành công nghiệp nổi lên đó. Các mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa các ngành giúp cho các ngành phát huy được thế mạnh kết hợp, tăng được khả năng cạnh tranh của từng ngành.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.