phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu đƣợc chia thành 3 chƣơng. Chƣơng 1 trình bày về cơ sở lý luận và vai trò của tín dụng chính sách. Chƣơng 2 trình bày về thực trạng hoạt động tín dụng chính sách tại NHCSXH tỉnh Lâm Đồng. Chƣơng 3 tóm tắt các giải pháp mở rộng tín dụng chính sách tại NHCSXH tỉnh Lâm Đồng.
5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH Chƣơng 1 này sẽ đi sâu vào phần cơ sở lý thuyết của đề tài liên quan đến các vấn đề về xóa đói giảm nghèo, tín dụng và vai trò của tín dụng đối với ngƣời nghèo. Trong chƣơng này cũng giới thiệu một số mô hình nghiên cứu đã thực hiện về lĩnh vực xóa đói giảm nghèo và tín dụng đối với ngƣời nghèo. Chƣơng này đƣợc thiết kế gồm hai phần chính, nội dung cụ thể nhƣ sau: 1. Những vấn đề về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo 1.
Khái niệm đói nghèo và giảm nghèo Nghèo đói là một vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển. Đây cũng là vấn đề đƣợc Chính phủ các nƣớc, các nhà lãnh đạo, các tổ chức quốc tế rất quan tâm nhằm tìm ra những giải pháp hạn chế và tiến tới xóa bỏ nạn đói nghèo trên phạm vi toàn cầu. Hiện nay trên thế giới vẫn chƣa có một khái niệm thống nhất về đói nghèo, tuy nhiên tồn tại một số quan niệm phổ biến đƣợc nhiều quốc gia sử dụng tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu xóa đói giảm nghèo cụ thể. * Quan niệm về đói: Đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống (Lê Quốc hội, 2009).
* Quan niệm về nghèo: Trong chiến lƣợc về tăng trƣởng và xóa đói giảm nghèo, Việt Nam sử dụng khái niệm nghèo do Hội nghị về chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu đó được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. - Hộ nghèo: Ở Việt Nam tồn tại nhiều cách xác định hộ nghèo tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và chủ trƣơng xóa đói giảm nghèo của từng địa phƣơng trong mỗi thời kỳ khác nhau. Do đó, để phân loại hộ nghèo cần xem xét các đặc trƣng cơ bản nhƣ: thiếu ăn từ 3 tháng trở lên trong năm, nợ sản lƣợng khoán, nợ 6 thuế triền miên, vay nặng lãi, trẻ em không có điều kiện đến trƣờng (mù chữ hoặc bỏ học), thậm chí phải cho con hoặc tự bản thân đi làm thuê cuốc mƣớn để kiếm sống hoặc đi ăn xin. Hiện nay, khái niệm nghèo ở Việt Nam đã đƣợc mở rộng theo nhiều khía cạnh và ngày càng tiếp cận gần hơn với quan niệm chung của thế giới và khu vực.
Khái niệm nghèo không chỉ dựa trên mức thu nhập đảm bảo cho các nhu cầu thiết yếu hàng ngày mà đã quan tâm tới những nhu cầu khác của con ngƣời nhƣ quyền đƣợc tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục, các dịch vụ cơ bản khác, quyền đƣợc tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. * Quan niệm về giảm nghèo Ở góc độ nƣớc nghèo, giảm nghèo là từng bƣớc thực hiện quá trình chuyển từ trình độ sản xuất cũ lạc hậu sang trình độ sản xuất mới, hiện đại. Ở góc độ ngƣời nghèo, giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ ngƣời nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển, trên cơ sở đó từng bƣớc thoát ra khỏi tình trạng nghèo (Lê Quốc Hội, 2009) 1. Đo lƣờng đói nghèo của thế giới Đo lƣờng đói nghèo là một vấn đề rất phức tạp.
Đói nghèo có thể đƣợc thể hiện theo khía cạnh thu nhập cũng nhƣ là theo khía cạnh phi thu nhập. Bốn phƣơng pháp về đo lƣờng đói nghèo theo các khía cạnh khác nhau đƣợc thế giới sử dụng nhƣ sau (Lê Quốc Hội, 2009) : *Đo lƣờng đói nghèo bằng thu nhập hoặc bằng chi tiêu cho tiêu dùng Trong phƣơng pháp này, đói nghèo đƣợc đo bằng một đƣờng đói nghèo. Đƣờng đói nghèo sẽ tính ra chi phí tối thiểu cần thiết cho các mặt hàng lƣơng thực thiết yếu và nhiên liệu tiêu dùng cho việc chế biến các mặt hàng lƣơng thực này. Số ngƣời mà rơi xuống dƣới đƣờng này đƣợc coi là những ngƣời nghèo.
Phƣơng pháp này chỉ tính đƣợc qui mô số ngƣời nghèo nhƣng không nói lên đƣợc chất lƣợng của mức sống dƣới dạng các nhu cầu cơ bản khác. *Phương pháp đo lường đói nghèo theo dinh dưỡng Đói nghèo đƣợc đo lƣờng bằng việc đƣa ra một đƣờng đói nghèo dựa trên 7 nhu cầu calo cơ bản và tối thiểu (dinh dƣỡng). Một nhóm chuyên gia của FAO và WHO ƣớc tính rằng lƣợng calo tối thiểu một ngƣời một ngày xấp xỉ 2100 K. Phƣơng pháp này cũng chỉ đƣa ra đƣợc qui mô của ngƣời nghèo, không đƣa ra đƣợc một bức tranh thực sự về sự mất đi các nhu cầu cơ bản.
* Phương pháp đo lường đói nghèo bằng nhân trắc Đói nghèo có thể đƣợc đo lƣờng bằng phƣơng pháp nhân trắc thông qua đo cân nặng theo tuổi hoặc chiều cao theo tuổi của trẻ em từ 0 đến 6 tuổi hoặc cân nặng theo chiều cao của tất cả mọi ngƣời. * Phương pháp đo lường đói nghèo bằng nhu cầu cơ bản Đo lƣờng đói nghèo bằng nhu cầu cơ bản đề cập tới 2 loại của nhu cầu về vật chất của con ngƣời. Một là nhu cầu tối thiểu của một hộ gia đình; hai là các nhu cầu tiêu dùng của từng cá nhân. Nhu cầu tối thiểu bao gồm: Đủ lƣơng thực, nhà ở, quần áo, các dụng cụ và đồ dùng gia đình.
Các dịch vụ thiết yếu cung cấp bởi cộng đồng bao gồm: Nƣớc sạch, vệ sinh, giao thông công cộng, y tế, giáo dục, các phƣơng tiện văn hóa. Phƣơng pháp xác định chuẩn đói nghèo ở Việt Nam Phƣơng pháp của Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội: Đây là phƣơng pháp xác định chuẩn đói nghèo dựa trên thu nhập của hộ gia đình. Các hộ gia đình đƣợc xếp vào diện nghèo nếu mức thu nhập bình quân đầu ngƣời của họ dƣới mức chuẩn đƣợc xác định, mức này đƣợc quy định khác nhau giữa khu vực thành thị, nông thôn và miền núi hải đảo do những đặc điểm riêng về kinh tế - xã hội. Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo hiện nay sử dụng chuẩn nghèo theo phƣơng pháp này.
* Giai đoạn 2001-2005 (Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000): Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời trong hộ đạt từ mức thu nhập sau trở xuống: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/ngƣời/tháng + Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/ngƣời/tháng 8 + Vùng thành thị: 150.000 đồng/ngƣời/tháng * Giai đoạn 2006-2010 (Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/01/2005) Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời trong hộ đạt từ mức thu nhập sau trở xuống: + Khu vực nông thôn: 200.000 đồng/ngƣời/tháng + Khu vực thành thị: 260.000 đồng/ngƣời/tháng * Giai đoạn 2011-2015 (Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/01/2011) Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời trong hộ đạt từ mức thu nhập sau trở xuống: + Khu vực nông thôn: 400.000 đồng/ngƣời/tháng + Khu vực thành thị: 500.000 đồng/ngƣời/tháng Phƣơng pháp của Tổng cục Thống kê: Tổng cục Thống kê dựa trên cả khía cạnh thu nhập và chi tiêu theo đầu ngƣời để xác định chuẩn nghèo. Theo đó, hai chuẩn nghèo đƣợc xác định nhƣ sau: - Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm: Đƣợc xác định là số tiền cần thiết để mua một số lƣợng lƣơng thực, thực phẩm hàng ngày đảm bảo cung cấp lƣợng kalory tiêu dùng bình quân là 2.100 kalory/ngƣời/ngày. Những ngƣời có mức chi tiêu dƣới mức chuẩn này đƣợc gọi là ngƣời nghèo về lƣơng thực thực phẩm. Đây là phƣơng pháp xác định đƣờng đói nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế do Ngân hàng thế giới xác định và đã đƣợc thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cƣ và thực trang đói nghèo ở Việt Nam.
- Chuẩn nghèo chung: Đƣợc xác định bằng cách lấy chuẩn nghèo về lƣơng thực, thực phẩm cộng thêm chi phí cho các mặt hàng phi lƣơng thực, thực phẩm. Dựa trên phƣơng pháp này, chuẩn nghèo về lƣơng thực, thực phẩm và chuẩn nghèo chung ở Việt Nam đƣợc tính cụ thể nhƣ bảng 1.1: Chuẩn nghèo ở Việt Nam qua các năm 9 Chi tiêu bình quân đầu ngƣời/năm 2002 2004 2006 2008 Chuẩn nghèo theo lƣơng 1.000 thực, thực phẩm (đồng) Chuẩn nghèo chung (đồng) 1.000 Nguồn: Tổng cục Thống kê 1. Những nhân tố ảnh hƣởng đến tình trạng nghèo đói Có rất nhiều nhân tố ảnh hƣởng đến nghèo đói, nó không chỉ đơn thuần là nhân tố về kinh tế hoặc thiên tai, địch họa gây ra. Mà tình trạng đói nghèo có sự đan xen của nhiều yếu tố cả tất yếu lẫn ngẫu nhiên, cả chủ quan lẫn khách quan, cả tự nhiên lẫn kinh tế xã hội.
Rất nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về nghèo đói đã chỉ ra rằng, có rất nhiều nguyên nhân làm cho ngƣời ta lâm vào cảnh nghèo đói, sau đây xin giới thiệu một số nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói. Nhóm yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội - Vị trí địa lý: Những vùng xa xôi hẻo lánh, địa hình phức tạp, không có đƣờng giao thông, điều kiện đi lại khó khăn là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo. Bởi vì, do điều kiện nhƣ vậy họ dễ rơi vào thế bị cô lập, tách biệt với bên ngoài, khó tiếp cận đƣợc các nguồn lực nhƣ tín dụng, khoa học kỹ thuật,công nghệ, thị trƣờng,.làm cho cuộc sống của họ lạc hậu, khó phát triển. - Đất canh tác: Diện tích đất canh tác ít, đất cằn cỗi, ít màu mỡ, canh tác khó, năng suất thấp, dẫn đến sản xuất trong nông nghiệp gặp khó khăn, thu nhập thấp, việc tích luỹ và tái sản xuất bị hạn chế hoặc hầu nhƣ không có.
- Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt: Những vùng thƣờng xuyên có thiên tai xảy ra đặc biệt nhƣ bảo lụt, hạn hán,. thƣờng có ảnh hƣởng rất lớn đến đời sống nhân dân. Tác hại của chúng là khá lớn và chúng luôn là kẻ thù đồng hành với những ngƣời nghèo đói.