CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ ĐĂNG KÝ VÀ SẢN XUẤT THUỐC TRONG LĨNH VỰC Y TẾ 1.1 Khái niệm vi phạm hành chính về đăng ký và sản xuất thuốc trong lĩnh vực y tế 1.1 Khái niệm, dấu hiệu vi phạm hành chính Khái niệm “vi phạm hành chính” (sau đây viết tắt là VPHC) đã tồn tại từ lâu trong đời sống pháp lý, là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội và được pháp luật nói chung và luật hành chính nói riêng bảo vệ. Thuật ngữ “vi phạm hành chính” được quy định lần đầu tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989. Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và năm 2002 không có quy định thế nào là vi phạm hành chính. Xuất phát từ những đòi hỏi mới của hoạt động quản lý nhà nước trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã được ban hành1.
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sau đây viết tắt là Luật XLVPHC 2012) định nghĩa: “Vi phạm hành chính là hành vi có lôi do cá nhân, tô chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. So với định nghĩa trong các văn bản trước đây, tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt định nghĩa VPHC nhưng các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất với nhau về những dấu hiệu bản chất của loại vi phạm pháp luật này2. Dựa vào đó, xác định các dấu hiệu cơ bản của vi phạm hành chính như sau: - Tính có lôi: lỗi là thái độ chủ quan của cá nhân, tổ chức đối với hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lí nhà nước của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra, lỗi bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý. Vi phạm hành chính không thể là hành vi không có lỗi.
Lỗi cố ý thể hiện ở việc người vi phạm hành chính nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội của hành vi nhưng vẫn thực hiện hoặc để mặc cho hậu quả của hành vi đó xảy ra. Lỗi vô ý thể hiện ở việc người vi phạm hành chính không biết hoặc không nhận thức được hành vi trái pháp luật mặc dù cần phải biết 1 Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên (2017), Bình luận khoa học Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nxb. Hồng Đức, tr. 2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, tr.
6 và nhận thức được hoặc nhận thức được nhưng cho rằng có thể ngăn ngừa được hậu quả3. - Tính trái pháp luật: VPHC là hành vi trái pháp luật nên có tính nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi VPHC thể hiện ở chỗ VPHC phá vỡ trật tự xã hội được Nhà nước thiết lập, xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm đến quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, xã hội, Nhà nước 4. Tính trái pháp luật được thể hiện ở hành vi vi phạm quy định pháp luật về quản lý nhà nước bao gồm hành vi vi phạm hành chính được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động và có các biểu hiện cụ thể như không thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính yêu cầu; thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính cấm; thực hiện những hành vi vượt quá phạm vi pháp luật hành chính cho phép.
- Không phải là tội phạm: nghĩa là về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm chưa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc hành vi vi phạm đó chưa đủ dấu hiệu cấu thành một tội cụ thể được Bộ luật Hình sự quy định. Đây là dấu hiệu quan trọng của vi phạm hành chính bởi “một hành vi không thể vừa là tội phạm vừa là vi phạm hành chính”. - Theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC: điều này có nghĩa là không bị coi là VPHC nếu hành vi đó không được pháp luật quy định phải bị xử phạt VPHC.2 Khái niệm và dấu hiệu vi phạm hành chính về đăng ký và sản xuất thuốc trong lĩnh vực y tế Đăng ký và sản xuất thuốc trong lĩnh vực y tế là một lĩnh vực thiết yếu, quan trọng trong đời sống sức khỏe xã hội với những đặc thù riêng. Các hoạt động này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người, do đó, việc quản lý chặt chẽ thuốc từ khâu sản xuất đến tay người sử dụng là yêu cầu quan trọng nhằm đảm bảo thuốc chất lượng, an toàn và có hiệu lực, trong đó kiểm tra hoạt động sản xuất thuốc và cấp số đăng ký thuốc trước khi lưu hành thuốc là một trong những biện pháp quản lý thuốc của cơ quan quản lý về dược.
Để hiểu được khái niệm xử phạt vi phạm hành chính về đăng ký và sản xuất 3 Phạm Hồng Thái - Nguyễn Thị Minh Hà đồng chủ biên (2017), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. Bùi Thị Đào, THS. Hoàng Thị Lan Phương , “Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật hiện hành”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 23 (399), tháng 12/2019.
7 thuốc trong lĩnh vực y tế, trước hết cần phải tìm hiểu một số khái niệm liên quan như sau: Một là, khái niệm về “thuốc”. Theo quy định của Quy chế đăng ký thuốc ban hành kèm theo Quyết định 3121/QĐ-BYT ngày 18/07/2001 của Bộ trưởng Bộ Y tế thì: “Thuốc là những sản phẩm dùng cho người nhằm phòng bệnh, chữa bệnh, làm giảm triệu chứng bệnh, chuẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý của cơ thể”. Ngày 14/6/2005, Luật Dược số 34/2005/QH11 (sau đây viết tắt là Luật Dược 2005) được ban hành thì lần đầu tiên định nghĩa về thuốc được đề cập một cách chi tiết, rõ ràng ở văn bản có giá trị pháp lý cao như luật, cụ thể tại Điều 2 quy định như sau: “Thuốc là chất hoặc hôn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng”. Và Luật Dược số 105/2016/QH13 ban hành ngày 06/4/2016, có hiệu lực ngày 01/01/2017 (sau đây viết tắt là Luật Dược 2016) thay thế Luật Dược 2005 tại khoản 2 Điều 2, định nghĩa về khái niệm thuốc như sau: “Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cô truyền, vắc xin và sinh phẩm”.
Qua các định nghĩa trên, nhận thấy rằng có sự khác nhau nhất định trong mỗi văn bản. Tuy nhiên, định nghĩa về khái niệm thuốc tại Luật Dược 2016 được xem là định nghĩa về thuốc hoàn chỉnh nhất sau quá trình nghiên cứu và tiếp thu các văn bản trước đó của các nhà làm luật dựa trên cơ sở làm rõ hơn khái niệm thuốc cũng như đảm bảo phù hợp với hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới và bộ thuật ngữ chung của ASEAN. Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích các định nghĩa về thuốc như trên, xét thấy khái niệm thuốc có một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, phải là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người. Đặc điểm này là đặc trưng của thuốc, phân loại với các loại thuốc dùng cho động vật là thuốc thú y, thuốc dành cho thực vật bao gồm các loại thuốc trị sâu, trị bệnh.
Thứ hai, mục đích sử dụng là để phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người. Nghĩa là, các sản phẩm sử dụng ngoài các mục đích nêu trên thì không được coi là thuốc. Thứ ba, thuốc chỉ bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, 8 vắc xin và sinh phẩm. Chỉ những sản phẩm được liệt kê mới được xem là thuốc, các sản phẩm còn lại như thực phẩm chức năng, mỹ phẩm không phải là thuốc.
Việc làm rõ định nghĩa “thuốc” có ý nghĩa quan trọng, giúp ta xác định được chính xác đối tượng cần điều chỉnh của luật, từ đó áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính dối với các vi phạm hành chính về đăng ký và sản xuất thuốc trong lĩnh vực y tế một cách đúng đắn. Ví dụ 1: Tại điểm e, khoản 6, Điều 57 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế (sau đây viết tắt là Nghị định số 117/2020/NĐ-CP), quy định về hành vi sản xuất sản phẩm không phải là thuốc trên dây chuyền sản xuất thuốc, trừ trường hợp sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe trên dây chuyền sản xuất thuốc dược liệu, thuốc cô truyền hoặc trường hợp khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế. Theo đó, để xác định được chủ thể có hành vi vi phạm hay không để có cơ sở xử phạt thì cơ quan có thẩm quyền phải xác định đối tượng trong hành vi vi phạm này không phải là thuốc (loại trừ trường hợp sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe trên dây chuyền sản xuất thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền hoặc trường hợp khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế). Ví dụ 2: Xét xử phúc thẩm vụ án khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế giữa Công ty cổ phần quốc tế Đại Lợi (Hà Nội) và Chánh thanh tra Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Vào ngày 26/4/2017, Thanh tra Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra việc sản xuất kinh doanh dung dịch nước muối sinh lý Natri Cloride 0,9% của Chi nhánh Công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh có địa chỉ ở Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 165/QĐ/T-tra ngày 25/4/2017 của Chánh Thanh tra Sở Y tế Thành phố, về việc kiểm tra hoạt động chuyên môn về dược, mỹ phẩm trang thiết bị y tế đối với 09 doanh nghiệp trên địa bàn.