Chương 1 MỌT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TRONG VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ ĐÓI VỚI NGƯỜI DIEU KHIỂN XE MÔ TÔ, GAN MAY VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ VI PHAM HANH CHÍNH VE TRẬT TỰ AN TOAN GIAO THONG DUONG BO DOI VỚI NGƯỜI DIEU KHIEN XE MOTO, XE GAN MAY CUA LUC LUONG CANH SAT GIAO THONG 1. Khái niệm, đặc điểm công tác xử lý vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ đối với người điều khiển xe mô tô, gắn máy 1. Khái niệm vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ đối với người điều khiển xe mô tô. gắn máy - Khái niệm vi phạm hành chính.
Vi phạm pháp luật được hiéu là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thé có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện xâm hại tới quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Các vi phạm pháp luật trong xã hội hiện nay vô cùng đa dạng, tuy nhiên khi căn cứ vào tính chất và đặc điểm của chủ thể, khách thể của hành vi vi phạm, thông thường vi phạm pháp luật được chia thành các loại vi phạm cu thể sau: vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm kỷ luật nhà nước, vi phạm pháp luật hành chính (VPHC). Như vậy hành vi VPHC là một nội dung cu thể của vi phạm pháp luật. Lần đầu tiên khái niệm VPHC được nêu là tại Pháp lệnh số 28-LCT/HDNN8 ngày 30/11/1989 của Hội đồng Nhà nước về xử phạt VPHC trong Pháp lệnh xử phạt VPHC.
Điều 1 của Pháp lệnh chỉ ra rằng: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tô chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Điều 1 Pháp lệnh số 2§-LCT/HĐNN§ ngày 30 tháng 11 năm 1989 của Hội đồng Nhà nước về xử phạt vi phạm hành chính. Hiện nay khái niệm VPHC được đề cập tại Điều 2 Luật Xử lý VPHC năm 2012 cụ thể như sau: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi, do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm va theo quy định của pháp luật phải bị xử phat vi phạm hành chính””. Theo định nghĩa trên, các dấu hiệu pháp lý cơ bản của VPHC được đưa ra là: tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, có lỗi, tính trái pháp luật hành chính và phải bị xử phạt VPHC.
Từ định nghĩa VPHC trên có thé khái quát VPHC là hành vi có lỗi, trái với pháp luật quản lý nhà nước và phải bị xử phạt. - Khái nệm TTATGT đường bộ: Trật tự, an toàn giao thông nói chung, TTATGT đường bộ nói riêng của mỗi quốc gia luôn là sản phẩm chung được kế thừa của nhiều hoạt động khác nhau trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh, trật tự của quốc gia đó. TTATGT đường bộ được xem là bộ mặt của xã hội, là một trong những tiêu chí cơ bản phản ánh tiềm lực kinh tế, năng lực quản lý và mức độ văn minh của mỗi quốc gia. Theo Từ điền tiếng Việt do Nhà xuất bản Bách khoa ấn hành năm 2014, thì giao thông là việc “đi lại tir chỗ này qua chỗ kia bằng phương tiện chuyên chở”, còn đường bộ được hiểu là “đường di trên đất liền”.
Và tại Khoản 1, Điều 3, Luật a» GTĐB thì đường bộ gồm “đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến pha đường bộ”. Trên cơ sở cách hiểu về các thuật ngữ “gizo fhông”, “đường bộ” như trên, có thê thấy “giao thông đường bộ” là việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia của người và phương tiện chuyên chở trên đường đường bộ, cầu đường bộ, hằm đường bộ, bến phà đường bộ. Theo Giáo trình “Công tác tuần tra kiém soát và xử lý vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông của lực lượng Cảnh sát Giao thông” dùng cho đào tạo Cao học, chuyên ngành Quản lý nhà nước về an ninh trật tự của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (2014) thì: “Trật tự an toàn giao thông là hệ thống các mối quan 2. Khoản 1 Điều 2 Luật số 15/2012/QH13 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung 2020 hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo để bảo đảm cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông gây thiệt hại về người và tài sản”.
TTATGT là một mặt của trật tự, an toàn xã hội (TTATXH), là trạng thai xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo, nhờ đó bảo đảm cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất TNGT, gây thiệt hại về người và tài sản. TTATGT là một mặt của trật tự, an toàn xã hội. Trong đó, khái niệm trật tự an toàn xã hội đã được khẳng định xuyên suốt quá trình lịch sử xuất phát từ nền móng phát triển tư duy lý luận về an ninh trật tự của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Sắc lệnh số 23 ngày 21/02/1946. Theo đó trật tự an toàn được hiểu là xã hội ở trong trạng thái có trật tự, ky cương, phép tắc, mọi người dân tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật và sinh sống yên ổn dựa trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lý.
Trên tỉnh thần đó, có thể hiểu TTATGT đường bộ là một trạng thái xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực GTDB mà các chủ thé khi tham gia giao thông phải tuyệt đối chấp hành nhằm đảm bảo hoạt động GTDB diễn ra thông suốt, trật tự và an toàn. Một trạng thái xã hội mà các chủ thể khi tham gia giao thông phải tuyệt đối chấp hành nhằm đảm bảo hoạt động GTĐB được diễn ra thông suốt, trật tự và an toàn, dựa trên sự hình thành, hiện hữu và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực GTĐB. Trật tự an toàn giao thông là hệ thống các mối quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo nhằm bảo đảm cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, thông qua đó hạn chế đến mức tối thiêu TNGT gây hậu quả thiệt hại về người và tài sản. 10 Thực tiễn cho thấy đối với hệ thống giao thông vận tải, GTĐB chính là một bộ phận lớn và quan trọng bậc nhất.
Do vậy, đảm bảo TTATGT nói chung và TTATGT đường bộ nói riêng luôn là nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản, thiết yếu của Nhà nước, của các ngành, các cấp và của toàn xã hội. Từ những khái niệm và lý luận nêu trên, khái nệm TTATGT đường bộ được xác định như sau: ”77⁄417GT7' đường bộ là hệ thống các mối quan hệ xã hội được hình thành và điều chinh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ mà mọi người khi tham gia giao thông phải tuân theo dé dam bảo hoạt động giao thông thông suốt, trật tụ, an toàn, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản ”. - Khái niệm VPHC về TTATGT đường bộ đối với người điều khiển xe mô tô, gắn máy: Hiện nay, khi tiếp cận khái niệm VPHC về TTATGT đường bộ nói chung và VPHC về TTATGT đường bộ đối với người điều khiển xe mô tô, gắn máy nói riêng thì chưa có một văn bản chính thức nào đề cập với tư cách là VPHC cụ thể. Kể cả văn bản pháp quy hiện hành trực tiếp quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB, đường sắt là Nghị định số 100/2019/NĐ-CP về xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTDB, đường sắt cũng chưa đề cập đến khái niệm này mà chỉ xác định các hành vi của người điều khiển xe mô tô, gắn máy bị xử phạt bao gồm 3 nhóm hành vi: Nhóm hành vi vi phạm quy tắc GTDB, nhóm hành vi vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông và nhóm hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiến xe cơ giới.
Tuy nhiên, trên cơ sở khái niệm VPHC, quy định về hành vi VPHC trong lĩnh vực GTDB đã nghiên cứu làm rõ nói trên, có thể đưa ra khái niệm VPHC về TTATGT đường bộ đối với người điều khiển xe mô tô, gắn máy như sau: Vi phạm hành chính về TTATGT đường bộ đối với người điều khiển xe mô tô, gắn máy là hành vi có lỗi do người điều khiển xe mô tô, gắn máy thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến các quy định về TTATGT đường bộ hoặc các quy tắc quản lý nhà nước về GTĐB mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt VPHC. Dac diém vi pham hanh chinh về trật tự an toàn giao thông đường bộ đỗi với người điều khiển xe mô tô, gắn máy Thủ nhất, khách thé của VPHC trong lĩnh vực TTATGT đường bộ đối với người điều khiển xe mô tô, gắn máy là những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực GTĐB được bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật hành chính. Bao gồm các hành vi vi phạm các quy tắc về GTĐB, hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới. được quy định tại Nghị định số 100/2019/NĐ-CP vẻ xử phạt VPHC lĩnh vực GTĐB, đường sắt.
Thứ hai, chủ thể của VPHC trong lĩnh vực TTATGT đường bộ đối với người điều khién xe mô tô, gắn máy là cá nhân (điều khiển xe mô tô, gắn máy) có năng lực trách nhiệm hành chính và tổ chức thực hiện. Thứ ba, hành vi VPHC về TTATGT đường bộ đối với người điều khiển xe mô tô, gắn máy có tính đa dạng cao. Tính chất và mức độ hậu quả của hành vi VPHC trong lĩnh vực GTDB phụ thuộc chủ yếu vào những thiệt hại thực tế do hành vi đó gây ra.