Chương 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ 1. Vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ 1. Tổng quan về vi phạm hành chính 1. Khái niệm vi phạm hành chính VPHC là một loại VPPL xảy ra rất phổ biến trong đời sống xã hội, từ những hành vi vi phạm nhỏ như hút thuốc lá, vứt rác bừa bãi nơi công cộng đến những hành vi vi phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm lớn hơn như điều khiển xe ô tô, mô tô không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông, đi không đúng phần đường, làn đường quy định gây ra TNGT… hay những hành vi trong lĩnh vực kinh tế, thương mại như kinh doanh các mặt hàng trái phép, không đăng ký kinh doanh, trốn thuế… Nhìn nhận từ góc độ lịch sử xây dựng pháp luật của Nhà nước ta cho thấy, đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành quy định về VPHC và các biện pháp xử lý đối với loại vi phạm này, trong đó phải kể đến là Nghị định số 143/CP ngày 27/5/1977 của Chính phủ ban hành Điều lệ xử phạt vi cảnh, Pháp lệnh xử phạt VPHC năm 1989, Pháp lệnh xử lý VPHC năm 1995, Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2007, 2008 và đến nay là Luật xử lý VPHC.
Để cụ thể hóa các Pháp lệnh xử lý VPHC, Luật xử lý VPHC nêu trên, Chính phủ đã ban hành một số lượng lớn các Nghị định quy định cụ thể về việc xử lý các VPHC, trên các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, hành vi “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt VPHC ngày 30/11/1989. Tại Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “VPHC là hành vi do cá nhân, tổ chức thực 8 Luận văn thạc sỹ Quản lý công hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc QLNN mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Định nghĩa này sau đó đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật.
Pháp lệnh XLVPHC ngày 06/7/1995 thay thế cho Pháp lệnh xử phạt VPHC ngày 30/11/1989 định nghĩa VPHC một cách gián tiếp tại Khoản 2 Điều 1: “Xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc QLNN mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC”. Theo Luật XLVPHC ngày 20 tháng 6 năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 thì “VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về QLNN mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC”. Nghiên cứu các quy định của pháp luật XLVPHC có thể thấy, mặc dù được diễn đạt bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng quan điểm, quan niệm về VPHC trong các văn bản pháp luật đã được ban hành của Nhà nước ta đều thống nhất về những dấu hiệu cơ bản nhất của loại VPPL này. Theo đó, có thể nêu lên khai niệm VPHC như sau: “VPHC là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về QLNN mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật”.
Đặc điểm vi phạm hành chính Từ khái niệm VPHC nêu trên trong các văn bản, tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều thống nhất các dấu hiệu pháp lý cơ bản của VPHC. Về bản chất, VPHC có 4 đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, tính nguy hiểm cho xã hội: đây là thuộc tính đầu tiên, được coi là dấu hiệu nội dung của VPHC. Tính nguy hiểm cho xã hội của VPHC 9 Luận văn thạc sỹ Quản lý công thấp hơn so với tội phạm, do đó, chưa đến mức để áp dụng chế tài hình sự đối với hành vi này mà chỉ áp dụng chế tài hành chính. Thứ hai, tính trái pháp luật hành chính: VPHC là hành vi xâm phạm trật tự quản lý nhà nước, xâm hại đến các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật về quản lý hành chính nhà nước bảo vệ.
Biểu hiện của tính trái pháp luật hành chính là hành vi vi phạm phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (theo quy định tại Điều 4 Luật XLVPHC năm 2012 thì Chính phủ quy định hành vi VPHC; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với VPHC trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính và quy định mẫu biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt VPHC). Tính trái pháp luật hành chính được coi là dấu hiệu hình thức của VPHC, khẳng định bằng quy phạm pháp luật, tính nguy hiểm cho xã hội của một hành vi được coi là VPHC. Thứ ba, tính có lỗi: VPHC phải là hành vi được thực hiện do lỗi cố ý hoặc vô ý của chủ thể; tức là phải biểu hiện ý chí chủ quan của cá nhân hoặc tổ chức trong việc lựa chọn một hành vi xử sự trái quy định của pháp luật. Thứ tư, chủ thể của VPHC phải là tổ chức hoặc cá nhân có năng lực trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo đó, chủ thể của VPHC có thể là công dân hoặc tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài VPHC trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. 10 Luận văn thạc sỹ Quản lý công 1. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ Về phương diện lý luận, VPHC về TTATGTĐB là một dạng của VPHC, nên về nguyên tắc dạng vi phạm này cũng có đầy đủ các yếu tố cấu thành VPHC. Tuy nhiên, đây là dạng vi phạm trong một lĩnh vực QLNN cụ thể là lĩnh vực GTĐB.
Để góp phần đảm bảo trật tự, kỷ cương, nề nếp trong công tác đảm bảo TTATGTĐB, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật thể hiện các quy định, quy tắc GTĐB. Theo đó, mọi tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực GTĐB có nghĩa vụ phải chấp hành. Tuy nhiên, trên thực tế không phải mọi tổ chức, cá nhân đều chấp hành tốt pháp luật về TTATGTĐB mà thường xảy ra các hành vi cố ý hay vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về TTATGTĐB. Các hành vi đó xâm hại đến trật tự QLNN về an toàn GTĐB, gây ra những hậu quả, nguy hiểm nhất định cho xã hội nên cần phải áp dụng các hình thức XLVPHC.
Như vậy, có thể định nghĩa: “Vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến các quy định của pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. [5] VPHC về TTATGTĐB mang đầy đủ các đặc điểm chung của VPHC, cụ thể: - VPHC về TTATGTĐB là hành vi trái pháp luật, xâm phạm các quy định của pháp luật về TTATGTĐB, tính nguy hiểm do hành vi VPHC về TTATGTĐB gây ra ở mức độ thấp. - Hành vi VPHC về TTATGTĐB do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính thực hiện. 11 Luận văn thạc sỹ Quản lý công - Mọi hành vi VPHC về TTATGTĐB đều phải có lỗi, thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý.
Người thực hiện hành vi VPHC về TTATGTĐB phải có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (lỗi vô ý) hoặc nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện (lỗi cố ý) xâm phạm đến các quy định QLNN về TTATGTĐB. - Hành vi VPHC về TTATGTĐB phải bị xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật. Các hành vi vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ Trên cơ sở quy định của Luật GTĐB, các văn bản hướng dẫn thi hành luật GTĐB và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động GTĐB, Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB và đường sắt quy định cụ thể các hành vi vi phạm về TTATGTĐB. Các hành vi đó được phân loại và chia thành các nhóm như sau: Thứ nhất, nhóm hành vi vi phạm quy tắc GTĐB.
Nhóm này bao gồm: - Các hành vi vi phạm của người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm quy tắc GTĐB. - Các hành vi vi phạm của người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc GTĐB. - Các hành vi vi phạm của người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm quy tắc GTĐB. - Các hành vi vi phạm của người đi bộ vi phạm quy tắc GTĐB.
Thứ hai, nhóm hành vi vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng GTĐB. Nhóm này bao gồm: 12 Luận văn thạc sỹ Quản lý công - Các hành vi vi phạm quy định về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ. - Các hành vi vi phạm quy định về thi công, bảo trì công trình trong phạm vi đất dành cho đường bộ.