CHƯƠNG 1 MO DAU 1.1 Dat vấn đề Xe máy là phương tiện giao thông được sử dụng thịnh hành nhất tại Việt Nam do đặc điểm giá thành vừa phải, di chuyền linh hoạt trên mọi tuyến đường, và dé dang đậu xe [1]. Hệ thống mạng lưới đường trên toàn quốc chiếm trên 60% là loại đường hai chiều không có dai phân cách giữa [2]. Sự phát triển mạnh về phương tiện xe máy kết hợp với đặc điểm dòng giao thông hỗn hợp trên đường hai chiều không có dai phân cách giữa đã dẫn đến tình trạng tăng cao xảy ra tai nạn giao thông (TNGT). Theo WHO, Việt Nam là quốc gia đứng đầu về tỷ lệ tử vong TNGT ở các nước khu vực Đông Nam Á trong năm 2022, với tỷ lệ 30,5/100.
Theo Ủy ban An toàn giao thông quốc gia (2022) [4], trung bình mỗi ngày cả nước xảy ra 31 vụ tai nạn làm 17 người chết và 22 người bị thương. Đặc biệt, hành vi băng qua đường (BQD) thuộc nhóm các nguyên nhân nồi trội gây ra tai nạn. Hành vi BQD của xe hai bánh trong luận án nay được định nghĩa là hành vi điều khiển phương tiện di chuyển theo quỹ đạo dé đến đích ở chiều xe chạy đối diện. Theo đó, phương tiện di chuyền tịnh tiến đến vị trí gần tim đường rồi thực hiện di chuyển giao cắt ngang đường ở chiều xe đối diện dé đến vị trí đích.
Hành vi người lái xe thực hiện BQD xảy ra rất phổ biến trên các tuyến đường, nhất là đường đô thị. Minh họa hành vi xe máy vi phạm BQD trong đô thị do xe di chuyển giao cắt tìm đường có sơn màu vàng vạch đôi nét liền không cho phép phương. tiện đi xuyên qua vạch sơn (Hình 1.1 Minh họa hành vi xe máy băng qua đường vi phạm luật giao thông Tỷ lệ TNGT trên toàn quốc do nguyên nhân BQD chiếm 8.14% tổng các nguyên nhân của năm 2016 [5] và 9.16% tổng các nguyên nhân của năm 2021 [6]. Theo đó, hành vi BQD tiềm ẩn rất cao TNGT và tỷ lệ tai nạn do hành vi này đang có xu hướng ngày càng tăng cao.
Tuy nhiên, các báo cáo về TNGT chỉ nêu tai nạn xảy ra do lỗi của người điều khiển phương tiện, chưa nêu lý do tại sao thực hiện hành vi BQD để có giải pháp ngăn chặn họ không thực hiện các hành vi vi phạm. Mặt khác, hành vi BQD là hành vi lái phổ biến nhưng đến nay chưa được nghiên cứu khoa học dẫn đến thiếu cơ sở lý thuyết, thiếu tính khoa học và thực tiễn về hành vi này. Do đó, kiềm chế TNGT liên quan hành vi BQD là van đề quan tâm hiện nay của chính quyền các cấp, các cơ quan chức năng quản lý giao thông vận tải. Hậu Giang là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long được thành lập năm 2004 nằm ở phía Tây sông Hậu, với dân số vào khoảng 808 nghìn người, tổng diện tích đất tự nhiên vào khoảng 1.
Về hệ thống mạng lưới đường bộ, tổng chiều dài mạng lưới đường bộ trong toàn tỉnh là 5.476km, trong đó gồm 6 tuyến quốc lộ với chiều dai 160km, 15 tuyến đường tỉnh với chiều dài 353km, 44 tuyến đường huyện với chiều dài 522km, đường đô thị với chiều đài 247km, đường giao thông nông thôn với chiều dài 4. Quy mô cấp đường đối với quốc lộ đạt cấp III, đường tinh dat cấp V, IV va III, đường huyện đạt V và IV, đô thị đa số là đường phd. Do đó, trên 80% mạng lưới đường là đường hai chiều xe chạy không có dai phân cách giữa. Về phương tiện tham gia giao thông, Tỉnh đang quản lý 9.080 xe ô tô và 365.050 xe hai bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm trở lên.
Vì vậy, xe hai bánh tham gia giao thông là thành phần chính trong dòng xe hỗn hợp lưu thông trên địa bàn tỉnh. Về đặc điểm TNGT tỉnh Hậu Giang năm 2022, để phát hiện mối tương quan, các nguyên nhân sơ bộ liên quan đến các vụ tai nạn thì cần tiến hành phân tích thống kê TNGT theo giới tính, độ tuổi, nguyên nhân gây ra, cụ thể như sau: (1) Thống kê TNGT đối với giới tính: Tổng cộng xảy ra 63 vụ TNGT làm chết 59 người và bị thương 91 người. TNGT do nam giới gây ra 55 vụ (chiếm 87%) làm chết 53 người (chiếm 90%) và bị thương 76 người (chiếm 83%), do nữ giới gây ra 8 vụ (chiếm 13%) làm chết 6 người (chiếm 10%) và bị thương 15 người (chiếm 17%) [7]. Tom lại, tỷ lệ do nam giới gây ra tai nạn cao gấp 7 lần so với nữ giới (Hình 1.
=: | Vu tai nan Người chết Người bị thương mNam Nữ Hình 1.2 Biểu dé minh họa TNGT theo giới tính trong năm 2022 tại Hậu Giang [7] (2) Thống kê TNGT đối với nhóm độ tuổi: Độ tuổi dưới 18 gây ra 12 vụ (chiếm 19%) làm chết 9 người (chiếm 15%) và bị thương 15 người (chiếm 16%), độ tuổi từ 18 tuổi - dưới 27 tuổi tạo ra 15 vụ (chiếm 24%) làm chết 15 người (chiếm 25%) va bị thương 24 người (chiếm 26%), độ tuổi từ 27 tuổi - 55 tuổi xảy ra 29 vụ (chiếm 46%) làm chết 29 người (chiếm 50%) và bị thương 39 người (chiếm 44%), độ tuổi trên 55 tuổi dẫn đến 7 vụ (chiếm 11%) làm chết 6 người (chiếm 10%) và bị thương 13 người (chiếm 14%) [7]. Tóm lại, TNGT do độ tuổi trưởng thành gây ra chủ yếu, nhất là nhóm tuổi từ 27 tuổi — 55 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất cả về số vụ, số người chết, số người bị thương (Hình 1. 45 40 3° _ 35 : 30 29 29 3 24 s2 5 20 2 15 15 15 gis RB 13 10 ° 76 a 0 _ <18 tuôi 18-27 tuôi 27-55 tuôi >55 tudi mVụtainạn Người chết TMNgudi bị thương Hình 1.3 Biểu đồ minh họa TNGT theo độ tuổi trong năm 2022 tại Hậu Giang [7] (3) Thống kê nguyên nhân TNGT theo phương tiện: Bang 1.1 trình bày chỉ tiết về số liệu TNGT theo nguyên nhân của từng phương tiện. Xét về phương tiện, TNGT do người điều khiển xe mô tô gây ra cao nhất với 46 vụ (chiếm 73%) làm chết 39 người (chiếm 66%) và bị thương 73 người (chiếm 80%), do người lái xe đạp tạo ra 7 vụ (chiếm 11%) làm chết 8 người (chiếm 14%) và bị thương 10 người (chiếm 11%), do người điều khiển xe ô tô con xảy ra 4 vụ (chiếm 6%) làm chết 5 người (chiếm 8%) và bị thương 3 người (chiếm 3%) [8].
Nguyên nhân Số vụ Số người chết Số người bị thương Mô tô 46 39 73 Đi không đúng phần đường lì 9 12 Vi phạm tốc độ 4 3 5 'Vượt sai quy định 4 7 Băng qua đường 8 9 17 Không chú ý quan sát 10 8 20 Không nhường đường 4 4 7 Không chap hành bién báo 2 1 3 Lỗi khác 2 1 2 6 1ô con 4 5 3 Đi không đúng phần đường 1 1 1 Bang qua đường 1 2 0 Không chú ý quan sát 1 1 1 Không chấp hành biển báo 1 1 1 Ô t6 tải 4 4 4 Đi không đúng phần đường 1 1 1 Bang qua đường 1 2 0 Không chú ý quan sát 1 I 1 Lỗi khác 1 0 2 Ô tô khách 2 3 1 Đi không đúng phần đường 1 1 1 Bang qua đường 1 2 0 Xe dap 7 8 10 Băng qua đường 5 6 8 Không chú ý quan sátt 2 2 2 Tổng số 63 s9 9% Xét về nguyên nhân tai nạn, TNGT do BQD gây ra 16 vụ (chiếm 25%) làm chết 21 người (chiếm 36%) và bị thương 25 người (chiếm 27%). Hành vi không chú ý quan sát xảy ra 14 vụ (chiếm 22%) làm chết 12 người (chiếm 20%) và bị thương 24 người (chiếm 26%). Hành vi đi không đúng phần đường tạo ra 14 vụ (chiếm 22%) làm chết 12 người (chiếm 20%) và bị thương 23 người (chiếm 25%). BQD là hành vi xảy ra tai nạn với tỷ lệ cao nhất cả về số vu, SỐ người chết, va số người bị thương (Hình 1.
30 25 23 Sđlưvơốợnịg 20 n Vượtsai Bang qua Không tốeđộ quyđịnh dud BVutainan Người chết # Người bị thương Hình 1.4 Biểu đồ TNGT theo nguyên nhân gây ra trong năm 2022 tại Hậu Giang [8] (4) Thống kê TNGT do BOD gây ra trong giai đoạn 2015-2022: Theo số liệu sơ kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT) giai đoạn 2015-2022 [7-9], tổng số vụ tai nạn có giảm kề từ năm 2017, tuy nhiên số vụ tai nạn do hành vi BQĐ thể hiện sự tăng từ năm 2017-2022 tương ứng tỷ lệ từ 9% tăng đến 25% (Hình 1. Xét về tỷ lệ phan trăm của nguyên nhân gây ra tai nan, giá trị bình quân của hành vi BQĐ chiếm 21.4% trong ba năm liền kề gần nhất 2020-2022. Theo số liệu thống kê trong điều kiện bình thường, mỗi nguyên nhân gây ra tai nạn thường chiếm tỷ lệ phần trăm nhỏ hơn 10%. Rõ ràng, BQĐ là nguyên nhân hàng đầu gây ra tai nạn so với các nguyên nhân khác, đặc biệt nguyên nhân BQD gây ra tai nạn cao nhất so với các hành vi khác trong năm 2022.
Xét về mức độ tăng trưởng của vụ tai nạn, độ dốc tăng trưởng lớn và thể hiện xu hướng chung tăng mạnh trong giai đoạn năm 2017-2022 mặc dù số vụ tai nạn có giảm vào năm 2021. Ngoài ra, mức độ tăng trưởng trung bình hàng năm của vụ tai nạn do BQD chiếm 25.2% trong giai đoạn năm 2017-2022, đây là mức độ tăng báo động về ATGT. Tóm lại, tai nạn liên quan BQD vừa là nguyên nhân hang đầu gây tai nạn, vừa có mức độ tăng trưởng báo động cao. Loại tai nạn này TẤt nghiêm trong và có xu hướng ngày càng tăng, nên việc kéo giảm tai nạn này cần đặc biệt quan tâm.
Trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu nêu trên, TNGT trên địa bàn Hậu Giang chủ yếu do xe hai bánh gây ra, trong đó nam giới, nhóm độ tuổi trưởng thành 27-55 tuổi là đối tượng chiếm da số, đặc biệt BQD là nguyên nhân gây tai nạn chiếm tỷ lệ cao nhất có diễn biến phức tạp với xu hướng ngày càng tăng trong những năm gần đây. Do đó, việc kéo giảm TNGT liên quan hành vi BQD là rất cấp bách trong bối cảnh của tinh Hậu Giang. 140 25 120 17 25 20 g 100 18 18 ề 80 J 15 80 77 15 < = 63 z 5 > 3 00 10 — xo a 40 5 20 0 0 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 mmm Sé vw/nim ——Tỷ lệ % băng qua đường Hình 1.