Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE XỬ LÝ VAT CHUNG TRONG GIAI DOAN XET XU SO THAM VU AN HINH SU’ 1. Khai niệm xử ly vật chứng trong giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án hình sự Xét xử vụ án hình sự nói chung và xét xử sơ thâm vụ án hình sự nói riêng, có VỊ trí rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Trong giai đoạn xét xử sơ thâm, Tòa án sẽ tiến hành kiểm tra, xem xét, đánh giá tính đúng dan, chân thực của toàn bộ những chứng cứ đã được thu thập trước đó một cách đầy đủ, công khai, qua đó làm sáng tỏ sự thật của vụ án và đưa ra các phán quyết phù hợp, toàn diện, triệt đề, đúng quy định của pháp luật. Ở giai đoạn này, một hoạt động không thé bỏ qua trong hầu hết các vụ án hình sự là hoạt động xử lý vật chứng.
Như vậy, xử lý vật chứng được tiếp cận với tư cách là một hoạt động tố tụng hình sự. Mặc dù không được pháp luật thực định đề cap, nhưng khái niệm “xử lý vật chứng” lại là một khái niệm pháp ly khá quen thuộc trong khoa học Luật tô tụng hình sự. Theo Từ điển Luật học, “xử lý vật chứng là xem xét, giải quyết vật chứng đã thu thập được” (1). Tác giả cho rang, đây là cơ sở dé xây dựng khái niệm “xử ly vật chứng trong giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án hình sự”.
Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử sơ thâm, việc xử lý vật chứng có nhiều điểm khác biệt so với các giai đoạn tố tụng khác ở chủ thê thực hiện, trình tự, thủ tục, phạm vi cũng như mục đích, ý nghĩa của việc xử lý. Bởi vậy, dé xây dựng khái niệm “xử lý vật chứng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” được day đủ, chặt chẽ, dudi đây tác giả tiếp cận theo hướng làm rõ từng yếu tố hợp thành khái niệm này. Đối tượng của việc xử lý vật chứng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu án hình sự “Vật chứng” chính là đối tượng của việc xử lý, nó mang trên mình những thông tin, đấu vết mà tội phạm để lại, có giá trị chứng minh trong vụ án hình sự và được xem là một nguồn của chứng cứ. Thời gian qua, dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, van đề vật chứng có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, trong đó có đề cập đến khái niệm vật chứng, có thê kê đên một sô quan điểm sau: (1).
Xem: Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2006), Tir điển Luật hoc, nxb. Từ điển Bách khoa - nxb. Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Vật chứng là vật có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” (1). Quan điểm này tiếp cận nội hàm khái niệm theo hướng nhân mạnh và đề cao giá trị chứng minh của vật chứng - thuộc tính khách quan, nội tại của vật chứng, nhưng lại chưa nêu được trình tự, thủ tục thu thập vật chứng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, do vậy tính pháp lý (tính hợp pháp) của vật chứng mà khái niệm này đề cập chưa được đảm bảo.
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Vật chứng là những vật được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, chứa đựng các thông tin được xác định là chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” (2). Quan điểm này khá hợp lý, tuy nhiên thông qua cách sắp xếp từ ngữ trong khái niệm cho thấy, quan điểm này đề cao thuộc tính hình thức pháp lý hơn thuộc tính khách quan, nội tai, cơ bản của vat chứng: Gia tri chứng minh. Trong khi đó, theo quan điểm thứ ba thì: “Vật chứng là vật thể được thu thập theo thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, chứa đựng các thông tin có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án” (3). Quan điểm này cũng chưa đề cập đầy đủ cả về tính hình thức pháp lý, lẫn giá trị chứng minh của vật chứng, mang tính khái quát cao.
Theo quan điểm thứ tư: “Vật chứng được hiểu là những gi tồn tại dưới dang vật thé chứa đựng va phản ánh những thông tin liên quan đến vụ án, được chủ thê có thâm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định” (4). Quan điểm này đề cập và mở rộng phạm vi đối tượng được xem là vật chứng quá lớn “.phản ánh những thông tin liên quan đến vụ án”, mà không tập trung vào những đối tượng có giá trị chứng minh và được sử dụng trong quá trình chứng minh vụ án hình sự. Mặc dù chưa có sự thống nhất trong quan niệm về vật chứng, nhưng về cơ bản, các quan điểm thứ hai, thứ ba, thứ tư đều có chung nhận định: Vật chứng là vật (vật thể) cụ thể, có giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật (tố tụng hình sự) quy định. Xem: Đặng Văn Quy (2010), “Ban về khái niệm vật chứng trong luật tố TTHSVN”, Tap chí TAND, số 2/2010, tr.
Xem: Trần Duy Bình, “Thực tiễn hoạt động thu thập, xử lý vật chứng và một số kiến nghị hoàn thiện” Cổng thông tin điện tử TANDTC, truy cập ngày 01/3/2014 tại địa chỉ: http://toaan.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_ cateid=1751909&item_id=161635 22&article_details= 1; ThS. Thái Chí Bình (2012), “Hoàn thiện quy định về vật chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Tap chí Nghiên cứu lập pháp, số 17/2012, tr. Xem: Trường ĐH. Luật Hà Nội (2007), Giáo frình luật tổ tụng hình sự, tr.
Xem: Vũ Gia Hân (2012), Khóa luận tốt nghiệp: “Nguồn chứng cứ trong luật t6 tụng hình sự Việt Nam”, Trường DH. Luật Ha Nội, tr. - Vật chứng là vật cụ thể: Đó là cái có thật, tồn tại bên ngoải thế giới khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người. Hình thức tổn tại trong thế giới khách quan (tồn tại trong không gian) của vật chứng là các vật thé - “vật cụ thé, có những thuộc tính vật lý nhất định” (1), con người có thé trông thay, cầm, nắm, đo đếm được, có thé nhận thức được nó thông qua các giác quan.
Vật thé nay có thé là động sản, nhưng cũng có thé là bất động sản như nhà xưởng, kho tàng,. Tuy nhiên, thực tiễn tổ tụng cho thay đa số vật chứng vụ án hình sự là động sản, một số ít trường hợp ở các vụ án về tham nhũng, ma túy. vật chứng có thê là bất động sản. Tội phạm là hành vi cụ thể của con người thé hiện ra bên ngoài thế giới khách quan.
Hoạt động tội phạm được xem là hoạt động vật chất (2). Bởi vậy, khi một tội phạm được thực hiện trên thực tế, nó sẽ tương tác với một số đối tượng và để lại các thông tin, dấu vết tội phạm ở các đối tượng này. Trường hợp đối tượng chịu sự tương tác (hay tác động) của hành vi phạm tội là dạng vật thé cụ thé của thé gidi vat chat, thi vat thé nay sé tro thanh vat chứng khi nó được cơ quan, người có thẩm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Tự thân vật chứng tồn tại một cách độc lập, không phụ thuộc vào việc kẻ phạm tội hay bất kế một chủ thể nào khác có mong muốn nó tồn tại hay không.
Đồng thời, từ khi xuất hiện trong thế giới khách quan, vật chứng đã mang trong mình giá trị chứng minh mà không phụ thuộc vào cơ quan tiến hành tố tung, người tiền hành tố tụng (chủ thể có trách nhiệm chứng minh) có nhận thức được giá trị chứng minh của nó hay không và nhận thức đến mức độ nào. Cơ quan tiễn hành tố tụng, người tiễn hành tố tụng phải tôn trọng sự thật khách quan của vụ án, trên cơ sở nhận thức, đánh giá đúng bản chất và giá trị chứng minh của vật chứng: nhận thức đúng mối liên hệ giữa vật chứng với các tình tiết của vụ án, tránh phiến diện, qua loa, áp đặt ý chí chủ quan vào quá trình chứng minh vụ án hình sự. - Vật chứng có giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự: Nghĩa là có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội, cũng như làm sáng tỏ những tình tiết khác của vụ án. Chỉ những vật thé có mối quan hệ với tình tiết nào đó của vu án mới có thé được coi là vật chứng.
Chính sự liên quan này nên vật chứng mới có khả năng làm sáng tỏ các vấn đề cần chứng minh trong vụ án (có giá trị chứng minh). Quá trình tiến hành t6 tụng bước đầu, do chưa nhận thức được sự việc phạm tội, cũng như cơ chế tội phạm để lại thông tin, dấu vết trên các đối tượng vật chất bên ngoài thế giới khách (1). Xem: Viện Ngôn ngữ học (2010), tài liệu đã dẫn, tr. Xem: Trường DH.
Luật HN (2007), tài liệu đã dan, tr. 150; Dang Van Quý (2010), tài liệu đã dân, tr. quan, nên co quan tiến hành tố tụng có thé sẽ thu giữ nhiều đối tượng vật chất nghi ngờ có liên quan đến tội phạm và người phạm tội. Tuy nhiên, không phải tất cả những gì được thu giữ đều trở thành vật chứng, chỉ những vật thể mang trên mình thông tin, dau vết do tội phạm để lại, có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội cũng như các tình tiết khác của vụ án mới có thể trở thành vật chứng của vụ an.
Vì vậy, cơ quan tiễn hành tố tụng, người tiễn hành tố tụng cũng như các chủ thê khác có thắm quyền theo luật định phải có nhận thức đúng đắn trong quá trình thu thập, đánh giá, sử dụng vật chứng. Việc thu thập vật chứng phải có tính sàng lọc nếu không sẽ có quá nhiều đối tượng được thu thập gây khó khăn cho công tác sử dụng và xử lý vật chứng. Khi đánh giá, sử dụng vật chứng phải thấy được tính liên quan của vật chứng đó với các tình tiết của vụ án, tránh đại khái, qua loa xác định tất cả những øì thu thập được đều là vật chứng gây khó khăn cho việc đánh giá, sử dụng và xử lý vật chứng hoặc xác định phạm vi vat chứng qua hẹp sẽ gây khó khăn cho việc chứng minh vụ án. - Vật chứng phải là những vật thé được thu thập, bao quản, lưu giữ theo trình tự, thủ tục do pháp luật t6 tung hinh su quy dinh.