Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ÂU THUYỀN VÀ CẢNG CÁ THỌ QUANG 1. Tổng quan khu vực âu thuyền Thọ Quang 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang được xây dựng tại Vũng Thùng thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Toạ độ vị trí địa lý theo bản đồ UTM ở vào khoảng 106015’ kinh độ Đông và 16006’ vĩ độ Bắc. Phía Đông : Giáp khu công nghiệp thuỷ sản Thọ Quang. Phía Tây : Giáp các doanh nghiệp đóng sửa tàu thuyền. Phía Nam : Giáp khu dân cư An Hoà - Nại Hiên Đông - Sơn Trà.
Phía Bắc : Giáp khu vực sửa chữa tàu thuyền X50 Hải Quân Hình 1. Vị trí địa lý của Âu thuyền Thọ Quang. Đây là khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, Cảng cá và Chợ Đầu mối thuỷ sản Thọ Quang theo quy hoạch do Uỷ ban nhân dân thành phố phê duyệt với 24ha mặt đất và khoảng 58ha mặt nước nhằm giúp cho tàu thuyền vào neo đậu trú bão an toàn. Điều kiện tự nhiên a) Tình hình khí tượng Sinh viên thực hiện: Trần Quốc Đạt Người hướng dẫn: TS.
Trần Minh Thảo 2 Ứng dụng sinh khối vi sinh vật hiếu khí và thiếu khí để xử lý nước thải tàu cá Theo kết quả quan trắc đo đạc của Tổng cục khí tượng thủy văn tại bán đảo Sơn Trà, kết quả quan trắc của Hải Quân và thông tin thiết kế dự án nâng cấp khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá Thọ Quang – Thành phố Đà Nẵng. Nhiệt độ - Nhiệt độ trung bình hàng năm: 25,60C. - Nhiệt độ cao nhất trung bình nhiều năm: 29,80C. - Nhiệt độ thấp nhất trung bình nhiều năm: 22,50C.
- Nhiệt độ cao tuyệt đối: 40,50C. - Nhiệt độ thấp tuyệt đối: 12,00C. - Tháng có nhiệt độ cao nhất từ tháng 5 đến tháng 8 còn tháng có nhiệt độ thấp nhất là từ tháng 11 đến tháng 12 hàng năm. Mưa - Mùa mưa thường từ giữa tháng 8 đến cuối tháng 12 hàng năm.
- Lượng mưa: Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc vào tháng 12. Lượng mưa trung bình hàng năm 1782mm với 119 ngày có mưa. - Lượng mưa ngày cao nhất: 590mm. Nắng - Ngày nắng thường tập trung và kéo dài từ tháng 1 đến tháng 9, giai đoạn nắng nhất là từ tháng 5 đến tháng 6 trong năm.
- Số giờ nắng cao nhất (tháng 5): 248 giờ - Số giờ nắng thấp nhất (tháng 9): 120 giờ - Tổng số giờ nắng trung bình nhiều năm: 2158 giờ Độ ẩm không khí - Độ ẩm trung bình hàng năm: 82%. - Độ ẩm cao nhất: 95%. - Độ ẩm thấp nhất: 64%. - Các tháng có độ ẩm thấp: Từ tháng 4 đến tháng 6.
Gió - Gió là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất tới sự lan truyền của các chất ô nhiễm trong không khí. Sự phân bố nồng độ chất ô nhiễm phụ thuộc vào tốc độ gió. Tốc độ gió càng nhỏ thì mức độ ô nhiễm xung quanh nguồn ô nhiễm càng lớn. - Hướng gió tại khu vực tương đối phân tán do bị chi phối bởi điều kiện hoàn lưu và địa hình.
- Hướng gió thịnh hành là Đông Bắc và Tây Nam. Gió Đông Bắc thường xuất hiện từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau và mang theo không khí lạnh, tốc độ gió lớn nhất là 24m/s. Gió Tây Nam xuất hiện vào tháng 4 đến tháng 9 và mang theo nhều hơi nước, tốc độ gió lớn nhất là 15m/s. - Tốc độ gió trung bình trong năm là 2,5m/s.
- Tốc độ gió lớn nhất: 24m/s. - Tốc độ gió quan trắc khi có bão: 40m/s. Bão, lũ Bão thường xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 11 hằng năm, cấp bão lớn nhất lên đến cấp 11, 12. Mỗi năm có ít nhất là 5 cơn bão gây ảnh hưởng hay trực tiếp đổ bộ lên đất Sinh viên thực hiện: Trần Quốc Đạt Người hướng dẫn: TS.
Trần Minh Thảo 3 Ứng dụng sinh khối vi sinh vật hiếu khí và thiếu khí để xử lý nước thải tàu cá liền. Mưa lớn thường xảy ra cùng thời kỳ có bão kèm theo gió xoáy và giật vô hướng, tốc độ gió khi có bão lên đến 40m/s. Lũ tiểu mãn thường xuất hiện vào tháng 5, 6. Lũ chính thường xuất hiện vào tháng 10 đến tháng 12.
Lũ kéo dài do ảnh hưởng lượng mưa từ thượng nguồn sông Hàn. Do khu vực dự án nằm ở Vũng Thùng ở phía ngoài cửa ra sông Hàn nên hoàn toàn phụ thuộc vào thủy triều và lũ không gây ảnh hưởng lớn đến khu vực. b) Tình hình thủy văn Thủy triều - Thuỷ triều trong khu vực này thuộc chế độ bán nhật triều không đều chiếm ưu thế, phần lớn các ngày trong tháng (khoảng 20-25 ngày) có 2 lần nước lên và 2 lần nước xuống, không đều về pha và biên độ. Số ngày nhật triều nhiều nhất trong tháng 8 là 8 ngày, ít nhất là 1 ngày, trung bình là 3 ngày.
- Biên độ thủy triều trung bình 0,9m; cực đại 1,6m; cực tiểu 0,2m. Dòng chảy: - Chế độ dòng chảy có ảnh hưởng rất lớn đến việc pha loãng và phát tán chất ô nhiễm. Dòng chảy tại vùng biển Đà Nẵng chịu tác động của gió, do vậy dòng chảy chủ yếu là Đông Bắc vào mùa đông và Tây Nam vào mùa hè. - Vịnh Đà Nẵng có bờ dạng vòng cung, được núi Sơn Trà và Hải Vân che chắn nên tạo ra các dòng chảy gần như một xoáy nước lớn và kèm theo các xoáy nhỏ phụ thuộc vào hướng gió, địa hình và các dòng chảy khác.
Dòng chảy trong vịnh Đà Nẵng có thành phần hết sức phức tạp, bao gồm dòng chảy mật độ, dòng chảy nước dân, dòng chảy triều, dòng chảy gió và dòng chảy sông. Trong đó dòng chảy triều chiếm ưu thế. Quá trình xáo trộn nước trong vũng thùng Quá trình xáo trộn của nước biển trong vịnh Đà Nẵng chịu tác động của: - Hệ thống hải lưu của biển đông khi tiếp cận đất liền. - Tác động kết hợp giữa sông, hải lưu và triều.
- Chịu tác động thủy lực của sông Hàn. Ngoài ra quá trình xáo trộn này còn chịu tác động rất lớn của địa hình, địa mao, cấu tạo địa chất của vịnh nên trên thực tế sự xáo trộn của nước biển Vịnh Đà Nẵng nói riêng và nước biển nói chung rất phức tạp. c) Địa chất nền của công trình - Theo tài liệu khảo sát địa chất, thì địa chất khu vực Âu thuyền được phân chia thành các lớp chính như sau: Lớp 1: Cát hạt vừa màu vàng xám đến xám xanh. Trạng thái tự nhiên ẩm, bão hoà nước, kết cấu rời rạc, lớp này có bề dày khoảng 1m, diện tích phân bố hẹp không đáng kể với toàn tuyến.
Lớp 2: Sét lẫn vỏ sò, vỏ hến màu xanh xám. Trạng thái dẻo chảy, kết cấu kém chặt lớp này có bề dày khoảng 0,4m, diện tích phân bố hẹp không đáng kể so với toàn tuyến như lớp 1. Sinh viên thực hiện: Trần Quốc Đạt Người hướng dẫn: TS. Trần Minh Thảo 4 Ứng dụng sinh khối vi sinh vật hiếu khí và thiếu khí để xử lý nước thải tàu cá Lớp 3: Cát hạt nhỏ, màu xám xanh đến xám đen, lẫn vỏ sò, vỏ hến.
Trạng thái tự nhiên bão hoà, kết cấu rời rạc, dễ dàng tan ra khi có nước. Chiều dày trung bình từ 0,6- 1m. Lớp 4: Cát hạt thô lẫn nhiều vỏ sò, vỏ hến, màu xám xanh. Trạng thái tự nhiên bão hoà, kết cấu kém chặt đến chặt vừa, dễ dàng tan ra khi có nước.
Chiều dày từ 1,1m đến 2,8m. Lớp 5: Cát hạt vừa lẫn vỏ sò, vỏ hến màu xanh xám. Trạng thái tự nhiên bão hoà, kết cấu rời rạc, dễ dàng tan ra khi có nước. Các đối tượng chính xung quanh Âu thuyền Thọ Quang Các vị trí neo đậu tàu Căn cứ vào điều kiện khí hậu, thuỷ văn và thuỷ triều cũng như tuỳ theo số lượng, kích thước và công suất tàu thuyền, khu neo đậu được phân bổ theo từng khu vực phù hợp với từng loại tàu thuyền như sau: - Khu vực I Là khu vực dành riêng cho tàu có công suất từ 250CV trở lên được bố trí ngay cửa thông thuyền sát bờ phía Bắc dọc theo tuyến bờ kè của đường dẫn lên cầu Mân Quang.
Khu vực này được bố trí 05 cụm phao neo, khoảng cách giữa bờ và phao là 100m và khoảng cách giữa các phao là 85m, trên các phao được đánh ký hiệu số từ 22B đến 28B. Theo thiết kế mỗi phao được neo buộc tối đa 04 tàu (đối với tàu có công suất 250CV đến 500CV). - Khu vực II Là khu vực dành cho tàu có công suất từ 90CV đến 250CV, đây là khu vực chủ yếu của Âu thuyền, được bố trí tại vùng nước ngay chính giữa Âu thuyền và dọc theo phía bờ Tây. Khu vực này được bố trí 09 cụm phao neo và tạo thành 03 dãy khoảng cách giữa bờ và phao là 114m, khoảng cách giữa các phao là 80m, trên các phao được đánh ký hiệu số từ 13B đến 21B.
Theo thiết kế mỗi phao được neo buộc tối đa 05 tàu (đối với tàu có công suất từ 90CV đến dưới 250CV). - Khu vực III Là khu vực dành cho tàu có công suất từ 45CV đến dưới 90CV nằm phía trong khu vực I và khu vực II dọc theo tuyến bờ kè phía Nam và phía Tây. Khu vực này được bố trí 14 cụm phao neo, khoảng cách giữa phao với bờ phía Tây là 90m, bờ phía Nam là 75m và bờ phía Đông là 86m. Khoảng cách giữa các phao là 60m, trên các phao được đánh ký hiệu số từ 1A đến 4A và 1B đến 12B.
Theo thiết kế mỗi phao được neo buộc tối đa là 08 tàu đối với tàu có công suất từ 45CV đến dưới 90CV. Trong trường hợp số tàu nhỏ hơn 90CV quá nhiều, có thể sử dụng các phao ở khu vực dành cho tàu lớn để neo đậu tàu nhỏ, nhưng số lượng tàu neo trên một phao phải đúng theo quy định. Ngoài ra, trên bờ dọc các bờ kè của phía Đông, phía Nam và phía Tây được bố trí 78 cọc bích dành cho các tàu có công suất dưới 45CV. Trong đó: Bờ Đông: 155 tàu, bờ Nam: 60 tàu, bờ Tây: 50 tàu Mỗi khu vực dành cho các loại tàu neo đậu đều có biển báo khu neo đậu theo công suất (Panô).
Sinh viên thực hiện: Trần Quốc Đạt Người hướng dẫn: TS.