Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Một số vấn đề chung về nợ xấu của ngân hàng thƣơng mại * Khái niệm nợ xấu Đối với các ngân hàng, nợ xấu được coi là rủi ro tín dụng, nó phản ánh trình độ phát triển và sức khỏe của toàn bộ nền kinh tế, năng lực kiểm soát rủi ro của hệ thống ngân hàng trước những sức ép thường xuyên do tác động của tình trạng bất ổn vĩ mô. Vậy nợ xấu được định nghĩa như thế nào? “Nợ xấu” được dịch thành “bad debt” là một thuật ngữ khá chung chung, chủ yếu phổ biến trên báo chí và các chuyên gia kinh tế. Dưới góc độ pháp lý và các chuyên gia về lĩnh vực ngân hàng thường sử dụng thuật ngữ “non – performing loans” (NPLs – các khoản vay không hiệu quả/ có thể bị mất vốn), trong đi đó các tiêu chuẩn kế toán lại sử dụng thuật ngữ như “non-accrual loans” (US GAAP) hay “impaired loans” (IAS 39).
NHNN Việt Nam sử dụng thuật ngữ NPLs nhưng dịch thành “nợ xấu” trong Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN ngày 20/4/2005 ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. Nghiên cứu dưới góc độ pháp lý nên bài luận văn sẽ sử dụng thuật ngữ “nợ xấu” với nghĩa của từ “non – performing loans”. Nợ xấu được hiểu là một khoản nợ khó có thể thu hồi được và/hoặc trở nên không còn khả năng sinh lời với các chủ nợ khi mà tất cả những nỗ lực để thu hồi khoản nợ được thực hiện. Nợ xấu thường là sản phẩm của các con nợ không trả được nợ (đúng hạn hoặc phá sản) hay các chi phí bỏ ra cho việc thu hồi nợ còn nhiều hơn khoản nợ mà chủ nợ có thể thu hồi được.
Các khoản nợ xấu này sẽ được chủ nợ xử lý rủi ro tín dụng (write-off). 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm về nợ xấu khác nhau ở mỗi quốc gia và khác nhau dưới góc nhìn của các chủ thể. Có thể nhắc tới một số khái niệm như sau: + Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS): Dù chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về nợ xấu, nhưng trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định: Khoản nợ được coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi nợ; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày [1]. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ.
+ Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) [18]: Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ; hoặc người mắc nợ trốn hoặc mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ; hoặc những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. Nợ xấu là những khoản cho vay có thể không thay toán đầy đủ cho ngân hàng: Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra để thế chấp không đủ để trả nợ. Điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ món nợ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để thanh toán hoặc hoàn cảnh chỉ rõ rằng phần lớn tiền nợ sẽ không thể thu hồi được. + Khái niệm nợ xấu của Tổ chức tiền tệ Quốc tế (IMF) [26]: Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không hoàn trả nợ đầy đủ.
Như vậy, về cơ bản nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày hoặc (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. + Tại Việt Nam, theo Thông tư số 02/2013/TT – NHNN ngày 21/01/2013 về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong việc hoạt động của tổ chức tín dụng; chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì: “Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), 4 (Nợ nghi ngờ) và 5 (Nợ có khả năng mất vốn)”. Nợ xấu bao gồm tất cả các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 đến nhóm 5 tùy theo cấp độ rủi ro khác nhau, theo nguyên tắc chỉ cần một khoản vay (trong tổng thể nhiều khoản vay khác) phát sinh quá hạn, hoặc được điều chỉnh kỳ hạn nợ, hoặc gia hạn nợ thì toàn bộ dư nợ này của khách hàng đó phải chuyển sang nhóm nợ xấu.
Như vậy, nợ xấu theo pháp luật Việt Nam được xác định theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 91 ngày hoặc (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại. Từ những định nghĩa trên cho thấy có sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới. Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu nếu nó xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc và lãi; khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng coi là không có khả năng trả nợ. Song cũng cần phân biệt giữa hai khái niệm nợ xấu và nợ khó đòi.
Nợ xấu (NPLs) và nợ khó đòi (Doubtful debt) là hai khái niệm khác biệt nhau. Nợ xấu là khoản phải thu đặc biệt mà được xác định rõ ràng là không thể thu hồi được và cần phải xử lý rủi ro, nợ xấu là nợ khó thu hồi bị xóa khỏi danh sách các khoản nợ phải thu. Trong khi đó 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nợ khó đòi là một khoản thu mà có thể trở thành nợ xấu ở một thời điểm trong tương lai khi không còn cách nào để thu hồi lại được khoản nợ. Nợ khó đòi được ghi dưới dạng chi phí của các ngân hàng và sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng.
* Bản chất của nợ xấu Xét về bản chất, nợ xấu như một khoản cho vay bắt nguồn từ quan hệ hợp đồng giữa các đối tượng dân sự, mối quan hệ cho vay giữa chủ nợ (ngân hàng) và con nợ (khách hàng). Các mối quan hệ đi vay – cho vay này dựa trên các công cụ nợ. Thông thường, hợp đồng cho vay quy định các nghĩa vụ cơ bản nhất của hai bên: bên cho vay có nghĩa vụ cho vay trong một khoảng thời gian cụ thể và ngược lại người đi vay có nghĩa vụ trả nợ gốc và trả lãi đúng thời hạn. Về mặt lý thuyết, tất cả quan hệ hợp đồng này được dựa trên các tiêu chuẩn thương mại, theo đó người đi vay và người có vay có thể thỏa thuận về quyền lợi của mình một cách bình đẳng.
Ví dụ: người cho vay có thể yêu cầu các khách hành bảo đảm cung cấp tài sản thế chấp hoặc bảo lãnh khoản vay để gánh vác trách nhiệm trong trường hợp không trả được nợ. Khi khoản vay chuyển sang nợ quá hạn, người cho vay và người đi vay có thể giải quyết nợ xấu bằng cách tham khảo các điều khoản của hợp đồng vay ban đầu. Tuy nhiên, ở Việt Nam nhiều giao dịch cho vay có thể có sự can thiệp đáng kể từ bên ngoài chẳng hạn áp lực Chính phủ buộc các ngân hàng phải cho vay chính sách. Trong các khoản vay chính sách, người cho vay không còn đưa ra quyết định cho vay theo các tiêu chuẩn thương mại thay vào đó là các tiêu chuẩn phù hợp với chính sách của chính phủ.
Do vậy, một số người đi vay có thể không thực hiện trả nợ cũ nhưng vẫn có thể nhận được các khoản vay mới từ ngân hàng. Khi các khoản vay chính sách được xếp vào xấu, nó có thể gây khó khăn cho ngân hàng để thu hồi nợ theo hợp đồng đã 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giao kết bởi hầu hết các trường hợp người đi vay có thể bị phá sản và không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Có thể thấy, việc mở rộng chính sách cho vay theo chính sách cũng góp phần gia tăng mức độ của nợ xấu trong hệ thống tài chính. Khi có quá nhiều nợ xấu trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng, ngân hàng có khả năng giảm tính thanh khoản bởi dòng tiền mặt từ khách hàng bị chảy chậm lại.
Do đó, khi nhìn từ một góc độ toàn diện, vấn đề nợ xấu không còn là mối quan hệ hợp đồng đơn giản, mà ở mức cao hơn cụ thể là: điều tiết hệ thống thị trường ngân hàng một cách toàn thể. Việc giải quyết nợ xấu cần phải xem xét trong một phạm vi hệ thống pháp luật toàn diện không chỉ đơn giản là luật hợp đồng mà còn là luật tài chính, luật thuế, luật tài sản và các quy định hành chính, các quy tắc, thông báo hoặc hướng dẫn. * Phân loại nợ xấu và trích lập dự phòng nợ xấu Phân loại nợ xấu được hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm tương đồng của khoản vay [24]. Việc xem xét và phân loại nợ giúp các ngân hàng có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay và trong trường hợp cần thiết, sẽ có các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong chất lượng tín dụng các danh mục cho vay.
Hiện nay, vẫn chưa có tiêu chuẩn về phân loại nợ xấu mà được áp dụng thống nhất trong tất cả các nước trên thế giới.