CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN 1. Khái niệm Theo luật BVMT 2020: “CTR là chất thải ở thể rắn hoặc bùn thải phát sinh do các hoạt động của con người và sinh vật, được thải bỏ khi chúng không còn hữu ích hay khi con người không muốn sử dụng nữa”. CTR đô thị là chất thải rắn phát sinh trong khu vực đô thị mà đô thị phải có trách nhiệm thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy. Thu gom CTR đô thị là các hoạt động thu gom CTR phát sinh trong khu vực đô thị.
Vận chuyển CTR đô thị là hoạt động vận chuyển chất thải rắn từ nơi thu gom, trạm trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế hoặc bãi chôn lấp. Tái chế CTR là các hoạt động thu hồi các thành phần có thể sử dụng để chế biến thành các sản phẩm mới. Xử lý CTR là các hoạt động nhằm loại bỏ những thành phần không mong muốn có trong chất thải rắn và tập thu những thành phần có lợi sinh ra từ quá trình chuyển hóa. Chôn lấp và tiêu hủy CTR là phương thức cuối cùng trong hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị thông qua hoạt động chôn vùi CTR tại khu vực được đô thị quy hoạch.
Quản lý CTR đô thị là hoạt động kiểm soát chất thải rắn đô thị từ lúc phát sinh cho đến lúc tiêu hủy theo phương thức hợp vệ sinh (làm sao để ảnh hưởng đến môi trường là tối thiểu). Mục đích việc quản lý CTR [2] Mục đích: + Bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. + Sử dụng tối đa vật liệu, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng. + Tái chế và sử dụng tối đa rác hữu cơ.
+ Giảm thiểu CTR tại bãi đổ. Thành phần, tính chất của CTR 1. Thành phần của CTR a. Thành phần Bốn thành phần CTR có sự thay đổi lớn: thực phẩm, giấy và carton, rác vườn, nhựa dẻo.
Ngoài ra còn có một số thành phần: cao su, thủy tinh, can thiếc, nhôm, kim loại khác,. Phương pháp xác định thành phần CTR Mẫu CTR ban đầu lấy từ khu vực nghiên cứu có khối lượng khoảng 100- 250kg, sau đó CTR được đổ đống tại một nơi riêng biệt, xáo trộn đều bằng cách vun thành đống hình côn nhiều lần. Lấy 2 phần chéo nhau và tiếp tục vun thành đống hình côn mới. Tiếp tục thực hiện các thao tác trên cho đến khi mẫu đạt được khoảng 20-30kg.
Mẫu CTR sẽ được phân loại thủ công. Mỗi thành phần được đặt vào một khay riêng. Sau đó cân các khay và ghi khối lượng của các thành phần. Tính chất của CTR.
Tính chất vật lý Khối lượng riêng: khối lượng CTR trên một đơn vị thể tích (kg/m3). Khối lượng chất thải rắn đô thị dao động trong khoảng 180 – 400 kg/m3 Độ ẩm (%): được xác định theo 2 phương pháp khô và phương pháp ướt Kích thước hạt Khả năng giữ nước thực tế Độ thấm của chất thải rắn đã được nén b. Tính chất hóa học 4 tiêu chí để phân tích hóa học của chất thải rắn: Phân tích gần đúng sơ bộ (xác định sơ bộ hàm lượng chất hữu cơ): độ ẩm, chất dễ bay hơi, cacbon cố định. Điểm nóng chảy của tro: nhiệt độ mà tại đó tro tạo thành từ quá trình đốt cháy chất thải bị nóng chảy và kết dính tạo thành dạng rắn (dao động 1100 12000C).
2 Phân tích thành phần nguyên tố hóa học: xác định phần trăm các nguyên tố C, H, O, N, S và tro. Nhiệt trị của CTR: là lượng nhiệt sinh ra do đốt cháy hoàn toàn một đơn vị khối lượng CTR. CHƯƠNG II: TÍNH TOÁN TẢI LƯỢNG VÀ VẠCH TUYẾN THU GOM 2. Tính toán tải lượng chất thải rắn sinh hoạt Khu đô thị cũ Khu đô thị mới 2 (S = 15.71 km2) tiêu chuẩn thải rác tiêu chuẩn thải rác Mật độ dân số (kg/người.ngđ) Mật độ dân số (kg/người.ngđ) (người/km2) 5 năm 5 năm (người/km2) 5 năm 5 năm đầu sau đầu sau 1315 0.qSH 365 - Lượng rác thải phát sinh: sh 1000 [2] Trong đó: +N: là số dân trong giai đoạn đang xét, người.
+g: là tỉ lệ tăng dân số, % +qSH: là tiêu chuẩn thải rác, kg/người.ngđ Lượng rác được thu gom: Rshtg = Rsh x P Trong đó: + P: là tỷ lệ thu gom, % Khu vực đô thị cũ 3 Tỷ lệ Tỷ lệ Lượng Diện Mật độ gia Tiêu chuẩn Khối lượng Dân số thu rác thu tích dân số tăng thải rác rác Năm gom gom dân số km2 người/km2 %năm người kg/người.00 Tính toán cho khu vực đô thị cũ: Tính toán cho khu vực đô thị mới: Khu vực đô thị mới Năm Diện Mật độ Tỷ lệ Dân số Tiêu chuẩn Khối lượng Tỷ lệ tích dân số gia Lượng thải rác rác thu rác thu 4 tăng gom gom dân số km2 người/km2 %năm người kg/người.68 Vậy tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trong 10 năm của khu dân cư là: M10 = 92249. Nguyên tắc và hình thức vạch tuyến mạng lưới thu gom 2. Nguyên tắc vạch tuyến mạng lưới thu gom [2] Xác định những chính sách, luật lệ và đường lối hiện hành liên quan đến hệ thống quản lý chất thải rắn, vị trí thu gom và tần suất thu gom. Khảo sát đặc điểm hệ thống thu gom hiện hành như là : số người của đội thu gom, số xe thu gom 5 Ở những nơi có thể, tuyến thu gom phải được bố trí để nó bắt đầu và kết thúc ở những tuyến phố chính.
Sử dụng rào cản địa lí và tự nhiên như là đường ranh giới của tuyến thu gom. Ở những khu vực có độ dốc cao, tuyến thu gom phải được bắt đầu ở đỉnh dốc và đi tiến xuống dốc khi xe thu gom chất thải đã nặng dần Tuyến thu gom phải được bố trí sao cho container cuối cùng được thu gom trên tuyến đặt ở gần bãi đổ nhất. CTR phát sinh ở những vị trí tắc nghẽn giao thông phải được thu gom vào thời điểm sớm nhất trong ngày Các nguồn có khối lượng CTR phát sinh lớn phải được phục vụ nhiều lần vào thời gian đầu của ngày công tác. Những điểm thu gom nằm rải rác (nơi có khối lượng CTR phát sinh nhỏ) có cùng số lần thu gom, phải tiến hành thu gom trên cùng 1 chuyến trong cùng 1 ngày.
Hình thức thu gom Hình thức thu gom được sử dụng là thu gom sơ cấp. Sử dụng xe đẩy tay dung tích 500 l thu gom rác tại các hộ gia đình. Rác từ hộ gia đình sẽ được người dân mang ra ngoài đường, nới đặt thùng rác có phân loại tại nguồn mỗi ngày một lần. Xe thu gom sẽ đi lần lượt qua các vị trí đặt thùng rác phân loại để lấy rác.
Sau đó đưa về điểm hẹn và được vận chuyển về bãi rác hoặc nhà máy xử lý bằng hình thức thu gom thứ cấp – xe thùng cố định. Hình thức thu gom CTR thứ cấp là thu gom một bên lề đường bên phải và lần lượt đi qua các điểm tập kết rác tại khu vực. Mỗi ngày thu gom 1 ca, mỗi ca làm việc 8h. Sơ đồ hệ thống thu gom CTR Dùng hệ thống thu gom container cố định.
T đấầu B iảchôn lấấp, cơ Bãi đổ xe s ởtái chếấ,. Hành trình mới Tcuôấi 2. Hệ thống thu gom Thu gom sơ cấp: Là thu gom từ nơi phát sinh đến thiết bị gom rác của thành phố, đô thị,. Giai đoạn này có sự tham gia của người dân và có sự ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thu gom.
Hệ thống thu gom này chủ yếu là bằng thủ công, bao gồm thu gom rác đường phố và thu gom rác từ các hộ dân cư. Trong thu gom sơ cấp có 2 phương án là: + Có sự phân loại đầu nguồn. + Không có sự phân loại đầu nguồn Thu gom thứ cấp: Là quá trình thu gom từ những thiết bị thu gom của thành phố đưa đến những nơi tái chế, xử lý (nhà máy tái chế chất dẻo, PVC, PE, phân hữu cơ hay bãi chôn lấp,. Trong đó bao gồm rác thải được các xe chuyên dùng chuyên chở đến các nhà máy xử lý, đến bải chôn lấp, những nhà máy tái chế.
Có 2 loại hệ thống thu gom thứ cấp: Hệ thống container di động 7 Hệ thống container cố định Hệ tống container di động Trong hệ thống này, các container di động được sử dụng để chứa đầy chất thải rắn và vận chuyển đến bãi đổ, đổ bỏ chất thải rắn và trả trở về vị trí thu gom ban đầu hoặc vị trí thu gom mới. - Áp dụng cho các nguồn phát sinh chất thải rắn có khối lượng lớn (trung tâm thương mại, nhà máy,.) - Ưu điểm: giảm thời gian vận chuyển, hạn chế việc chứa CTR thời gian dài và hạn chế các điều kiện vệ sinh kém Hệ thống container cố định Trong hệ thống này, container cố định được sử dụng để chứa CTR. Chúng chỉ di chuyển được một khoảng cách ngắn từ nguồn phát sinh đến vị trí thu gom để dỡ tải. - Ưu điểm: các xe thu gom được sử dụng trong hệ thống này được trang bị thiết bị nén ép CTR để làm giảm thê tích, tăng khối lượng vận chuyển.
Vì vậy hệ số sử dụng của hệ thống này cao hơn hệ thống container di động - Nhược điểm: thân xe thu gom có cấu tạo phức tạp, sẽ khó khăn trong việc bảo trì. Mặt khác, nó không thích hợp để thu gom các CTR có kích thước lớn và CTR xây dựng. Phương án vạch tuyến Phương án 1: Không phân loại tại nguồn Sơ đồ thu gom phương án 1 8 Nguồn phát sinh Xe đẩy tay Điểm tập kết Vận chuyển bằng xe ép rác chuyển Khu xử lý Thuyết minh sơ đồ thu gom CTR từ các hộ gia đình được tập trung vào các túi nilon hoặc xô, thùng chứa rác đặt tại khu vực tập kết rác theo từng khu ngõ. Các công nhân có nhiệm vụ thu gom rác vào các xe đẩy tay và chở về các điểm tập kết theo quy định.
CTR tại các điểm tập kết được nén ép, vận chuyển bằng các xe ép rác chuyên dụng và vận chuyển thẳng đến trạm xử lý tần suất: 1 lần/ngày.