Chương 1: XỬ LÝ BÃ SAU TRỒNG NẤM LÀM PHÂN HỮU CƠ SINH HỌC. Ảnh hưởng của loại chế phẩm vi sinh đến diễn biến nhiệt độ của đống ủ. Ảnh hưởng của loại chế phẩm vi sinh đến độ sụt lún thể tích đống ủ. Ảnh hưởng của loại chế phẩm vi sinh đến độ pH của đống ủ.
Ảnh hưởng của loại chế phẩm vi sinh đến chất lượng phân hữu cơ. Hiệu quả kinh tế của phân bón khi sử dụng chế phẩm vi sinh. Chi phí để sản xuất phân hữu cơ ở các công thức thí nghiệm. 32 Chương 2: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN HỮU CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA HOA DẠ YẾN THẢO.
Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng phân cành/thân chính của cây:. Ảnh hưởng của phân bón đến một số chỉ tiêu hoa của cây hoa Dạ yến thảo. Ảnh hưởng của phân bón đến mức độ gây hại của một số sâu bệnh chính trên cây hoa Dạ yến thảo. Ảnh hưởng của phân hữu cơ được xử lý từ bã nấm đến hiệu quả kinh tế của việc trồng hoa Dạ yến thảo.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ. 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 45 DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng 2. Thành phần của bã thải sau trồng nấm.
Diễn biến nhiệt độ của đống ủ theo thời gian. Diễn biến nhiệt độ của đống ủ theo thời gian. Diễn biến chiều cao của đống ủ. Diễn biến độ pH của đống ủ.
Diễn biến độ pH của đống ủ theo thời gian. Thành phần dinh dưỡng trong bã thải trồng nấm sau xử lý .4a: Hàm lượng Nitơ tổng số .4b: Hàm lượng P2O5hh .4c: Hàm lượngK2Ohh. Chi phí để sản xuất phân hữu cơ ở các công thức thí nghiệm. Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng phân cành cấp 1 .1: Sự tăng trưởng số cành/thân chính của cây .2a: Ảnh hưởng của phân bón đến một số chỉ tiêu hoa.
35 của cây Dạ yến thảo. Ảnh hưởng của phân bón đến số nụ/cây .Ảnh hưởng của phân bón đến số hoa/cây .2b: Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến đường kính hoa và độ bền tự nhiên của hoa. Mức độ gây hại của sâu, bệnh trên cây hoa Dạ yến thảo. Bảng chi phí trồng hoa Dạ yến thảo ở CTTN.
Bảng chi phí trồng hoa Dạ yến thảo ở CTĐC. Số tiền thu được khi bán hoa từ các công thức. Hiệu quả kinh tế của CTTN và CTĐC. 40 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI 1.
TÊN ĐỀ TÀI:Xử lý bã sau trồng nấm làm phân hữu cơ để trồng hoa Dạ yến thảo tại Ninh Bình 2. LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU:Nông lâm 3. THỜI GIAN THỰC HIỆN:Từ tháng 09 năm 2019 đến tháng 05 năm 2020. CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI Họ và tên: Nguyễn Thị Mỳ Học vị: Thạc sĩ.
Đơn vị công tác: Khoa Nông Lâm Điện thoại di động: 0396919381 Email: ntmy@hluv. NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU Đơn vị công tác, Nội dung nghiên cứu cụ Chữ TT Họ và tên lĩnh vực chuyên thể được giao ký môn 1 ThS. Nguyễn - Khoa Nông - Chỉ đạo chung Thị Mỳ Lâm - Tổ chức thảo luận, phân - Vi sinh vật học công công việc các thành viên, viết và báo cáo đề cương đề tài. - Chịu trách nhiệm chính bố trí và theo dõi thí nghiệm xử lý bã nấm với chế phẩm vi sinh thành phân hữu cơ để trồng hoa.
- Xử lý các số liệu thu thập được, viết báo cáo về nội dung xử lý bã sau trồng nấm. Trần Thị - Khoa Nông lâm - Tham gia xây dựng đề Thanh - Khoa học cây cương, hoàn thiện báo cáo. Phương trồng - Xây dựng mô hình trồng hoa Dạ yến thảo có bổ sung phân hữu cơ được xử lý từ bã nấm. - Chăm sóc hoa - Chủ trì tổ chức hội thảo đầu bờ.
- Thu thập số liệu và xử lí số liệu. Bùi - Khoa Nông - Tham gia xử lý bã sau Thùy Liên Lâm trồng nấm với chế phẩm vi - Sinh học thực sinh vật. nghiệm - Tham gia trồng, chăm sóc hoa và thu thập số liệu. Bùi Thị - Khoa Nông lâm - Tham gia xử lý bã sau Phương - Công nghệ Sinh trồng nấm với chế phẩm vi học sinh vật.
- Tham gia trồng, chăm sóc hoa và thu thập số liệu. Lê Thị - Khoa Nông lâm - Tham gia xử lý bã sau Tâm - LL & PP trồng nấm với chế phẩm vi DHBM Sinh sinh vật. - Tham gia trồng, chăm sóc hoa và thu thập số liệu. - Viết báo cáo đề tài phần tổng quan tình hình nghiên cứu.
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH: Không Phần 1. Lí do chọn đề tài: Nấm là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, ngoài công dụng làm thực phẩm thì nấm còn là một loại dược liệu quan trọng. Chính vì vậy trong những năm gần đây, ngành trồng nấm ở Việt Nam rất phát triển, đem lại nhiều lợi ích kinh tế, đáp ứng được nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu. Để bắt nhịp với xu thế phát triển chung của đất nước, hiện nay tỉnh Ninh Bình có rất nhiều trang trại cũng như hộ nhỏ lẻ đầu tư trồng nấm, loại nấm chủ yếu được trồng là nấm sò, nấm linh chi, mộc nhĩ.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích kinh tế thì nghề trồng nấm cũng tạo ra một lượng bã thải không nhỏ gây ô nhiễm môi trường nếu không được xử lý phù hợp. Hầu hết các hộ trồng nấm chỉ để bã thải nấm hoai mục tự nhiên kéo dài vài tháng đến vài năm sau đó bón trực tiếp cho cây mà không qua xử lý nên hiệu quả thấp. Mặt khácnguồn nấm bệnh còn tồn dư trong bã nấm khá nhiều ảnh hưởng không nhỏ đến cây trồng và sức khỏe người tiêu dùng. Đặc biệt, ở một số cơ sở sản xuất lớn, lượng bã thải để tồn đọng quá nhiều gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, sức khỏe của người dân và cảnh quan nông thôn.
Trong sản xuất để cây trồng đạt năng suất cao mà vẫn đảm bảo sự phát triển bền vững, không gây ảnh hưởng đến môi trường là mục tiêu chung của xã hội hiện nay. Phân hữu cơ giữ vai trò không thể thiếu trong phát triển nông nghiệp bền vững. Để bổ sung cho nguồn phân hữu cơ đang bị thiếu trầm trọng, cần phải quan tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học vào xử lý, tái chế phế thải hữu cơ để sản xuất phân bón hữu cơ sinh học bón cho cây trồng [2]. Vì vậy, việc tận dụng bã nấm để làm phân hữu cơ bón cho cây trồng không những giúp người dân giảm bớt chi phí đầu tư phân bón, tăng thu nhập cho người trồng nấm mà còn góp phần không nhỏ vào việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo ra sản phẩm cây trồng an toàn cho người tiêu dùng là một hướng đi đúng hiện nay.
1 Trên địa bàn Thành phố Ninh Bình ở các khu đô thị và nhiều gia đình đã tận dụng khoảng trống trên sân thượng hoặc trong sân vườn nhà để trồng các loại rau ăn lá, trồng hoa nhằm cải thiện các bữa ăn và cảnh quan trong gia đình. Loài hoa được nhiều người ưa chuộng và được trồng phổ biến là hoa Dạ yến thảo. Mặt khác phân bón hữu cơ không những làm tăng năng suất cây trồng mà nó còn hạn chế được nhiều loại sâu bệnh hại, do đó việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được hạn chế, giúp sản phảm rau, hoa an toàn đối với người và môi trường xung quanh. Vì vậy, việc sản xuất ra các loại phân bón hữu cơ hiện nay là rất cần thiết.
Đã có các công trình nghiên cứu xử lý bã sau trồng nấm bằng chế phẩm vi sinh để làm phân hữu cơ hay làm giá thể trồng rau. Trong các nghiên cứu của mình các nhóm tác giả có thể sử dụng chế phẩm vi sinh có sẵn trên thị trường hay các chủng vi sinh vật mà các nhà nghiên cứu đã phân lập và tuyển chọn được. Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu nhóm các tác giả cũng chưa đánh giá được yếu tố vi sinh vật trong chế phẩm trước khi bón cho rau. Đặc biệt, các nghiên cứu để làm giá thể trồng hoa còn ít được quan tâm.
Mặt khác, trong quá trình xử lý các nhà nghiên cứu vẫn còn bổ sung phân khoáng hóa học nên còn gây ra tình trạng thoái hóa đất. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: “Xử lý bã sau trồng nấm làm phân hữu cơ để trồng hoa Dạ yến thảo tại Ninh Bình”. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về phế thải sau trồng nấm 2.
Đặc điểm của phế thải sau trồng nấm Nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất nấm chủ yếu là rơm rạ, mùn cưa, bông phế liệu. Đây là những nguyên liệu mà thành phần chính của nó là xellulose, sau quá trình sử dụng để trồng nấm thì các nguyên liệu này đã bị phân hủy một phần. Tính chất của bã thải sau trồng nấm được thể hiện ở bảng 2. Thành phần của bã thải sau trồng nấm Stt Chỉ tiêu Đơn vị Kết quả 1 Cacbon tổng số % 20 2 Nitơ tổng số % 0,35 3 Photpho tổng số % 0,22 4 Kali tổng số % 0,28 5 Độ ẩm 35 6 pH 6,0 -6,5 7 Vi khuẩn Tế bào/g 6,5.104 8 Xạ khuẩn Tế bào/g 7,8.104 9 Nấm mốc Tế bào/g 3,0.104 (Nguồn: ThS Trần Thị Phương, 2005) Như vậy, có thể thấy thành phần dinh dưỡng có trong bã sau trồng nấm là tương đối thấp.
Bên cạnh đó, vỏ bao bì đựng phân bón, cám gạo, cám ngô và túi nilon đóng gói các bịch meo giống và đóng gói sản phẩm cũng là một loại phế thảicần được quan tâm. Tác động của phế thải sau trồng nấm đến môi trường Lượng phế thải sau trồng nấm của một đơn vị sản xuất trong một năm có thể lên tới hàng chục, hàng trăm tấn. Các loại phế thải này nếu không được xử lý triệt để sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nếu bã thải sau trồng nấm đem đốt sẽ tạo ra khói bụi, khí CO2, hay các túi nilon dùng để đóng gói các bịch và đóng gói sản phẩm mang đi đốt sẽ tạo ra các khí độc dioxin và Fura gây ô nhiễm không khí, ảnh hưởng tuyến nội tiết, gây 3 ung thư, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng tiêu hoá và các dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ,…và đặc biệt trong một số loại túi nilon có lẫn lưu huỳnh, dầu hỏa nguyên chất khi đốt cháy gặp hơi nước sẽ tạo thành axit Sunfuric dưới dạng các cơn mưaaxit rất có hại cho phổi.
Ngoài ra còn gây cản trở tầm nhìn của người tham gia giao thông, nếu phế thải được đốt gần đường.