Khóa luận: Xu hướng sử dụng thương mại điện tử của doanh nghiệp trong bối cảnh COVID-19

Nghiên cứu xu hướng sử dụng thương mại điện tử của doanh nghiệp trong COVID-19, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp thiết thực.

Trường đại học

Học Viện Ngân Hàng

Chuyên ngành

Kinh Doanh Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2021

84
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và loại hình Thương mại điện tử trong bối cảnh COVID 19

Thương mại điện tử (TMĐT) là quá trình mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua internet, trở thành giải pháp thiết yếu cho doanh nghiệp trong thời kỳ COVID-19. Khi các hoạt động kinh doanh truyền thống bị gián đoạn, TMĐT đã giúp các doanh nghiệp duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh. Các loại hình thương mại điện tử bao gồm B2B (doanh nghiệp với doanh nghiệp), B2C (doanh nghiệp với người tiêu dùng), C2C (người tiêu dùng với người tiêu dùng), và G2C (chính phủ với người tiêu dùng). Mỗi mô hình có đặc điểm riêng và tác động khác nhau đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Sự chuyển đổi sang TMĐT không chỉ là xu hướng mà còn là yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp có thể thích nghi với tình hình mới.

1.1. Định nghĩa và các loại hình TMĐT

Thương mại điện tử bao gồm nhiều hoạt động: bán hàng trực tuyến, thanh toán điện tử, và quản lý chuỗi cung ứng số. B2B tập trung vào quan hệ giữa các doanh nghiệp, B2C hướng đến người tiêu dùng cuối cùng. Các platform như Shopee, Lazada, Tiki trở thành kênh phân phối quan trọng. Sự đa dạng loại hình giúp doanh nghiệp linh hoạt lựa chọn kênh phù hợp nhất.

1.2. Vai trò TMĐT với doanh nghiệp thời COVID 19

Trong bối cảnh COVID-19, TMĐT đóng vai trò hệ thống hô hấp cho kinh tế kỹ thuật số. Doanh nghiệp có thể tiếp cận khách hàng rộng hơn, giảm chi phí vận hành, và tăng năng suất. TMĐT cũng giúp doanh nghiệp xây dựng dữ liệu khách hàng để phát triển chiến lược marketing hiệu quả hơn.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng TMĐT của doanh nghiệp

Việc lựa chọn sử dụng thương mại điện tử của doanh nghiệp trong bối cảnh COVID-19 chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố. Nhân tố kỹ thuật bao gồm cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, năng lực nhân sự và khả năng đầu tư công nghệ. Nhân tố kinh tế liên quan đến chi phí hoạt động, khả năng tài chính và kỳ vọng lợi nhuận. Nhân tố thị trường đề cập đến cung cầu, cạnh tranh và hành vi người tiêu dùng. Nhân tố chính sách bao gồm hỗ trợ từ chính phủ, quy định pháp luật về TMĐT. Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) thường gặp thách thức lớn hơn trong việc chuyển đổi số so với các doanh nghiệp lớn.

2.1. Nhân tố kỹ thuật và cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng CNTT là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển TMĐT. Tốc độ internet, hệ thống bảo mật dữ liệu, và nền tảng thương mại điện tử chất lượng cao là những yếu tố quan trọng. Doanh nghiệp cần đầu tư vào hệ thống quản lý hiệu quả để tích hợp hoạt động online và offline.

2.2. Nhân tố kinh tế và tài chính

Chi phí đầu tư ban đầu vào TMĐT có thể lớn, đặc biệt với DNVVN có nguồn lực hạn chế. Tuy nhiên, lợi nhuận dài hạn từ mở rộng thị trường và giảm chi phí vận hành có thể bù đắp. Hỗ trợ tài chính từ chính phủ và các tổ chức tín dụng là yếu tố quan trọng.

2.3. Nhân tố thị trường và hành vi tiêu dùng

Nhu cầu tiêu dùng trực tuyến tăng đột biến trong COVID-19 tạo cơ hội lớn. Sự tin tưởng của người tiêu dùng với platform TMĐT, chất lượng sản phẩm, và dịch vụ khách hàng quyết định thành công. Doanh nghiệp cần hiểu rõ hành vi người tiêu dùng để tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng.

III. Tác động của TMĐT đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp

Sử dụng thương mại điện tử có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ COVID-19. Doanh nghiệp áp dụng TMĐT thường ghi nhận tăng doanh thu từ 20-40% so với những doanh nghiệp không sử dụng. Chi phí vận hành giảm do không cần thuê mặt bằng bán lẻ truyền thống, giảm chi phí nhân sự trực tiếp. Lợi suất trên vốn đầu tư cũng cải thiện đáng kể. Ngoài ra, TMĐT giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng mới, mở rộng phạm vi kinh doanh, và xây dựng độ trung thành của khách hàng. Tuy nhiên, để đạt được kết quả tốt nhất, doanh nghiệp cần chiến lược TMĐT toàn diện và đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực chất lượng.

3.1. Tăng doanh thu và mở rộng thị trường

TMĐT cho phép doanh nghiệp bán hàng 24/7 trên toàn quốc thậm chí toàn thế giới. Phạm vi khách hàng không bị giới hạn bởi địa lý, từ đó tăng tiềm năng doanh thu. Sử dụng dữ liệu khách hàng, doanh nghiệp có thể cá nhân hóa chiến lược bán hàng để tăng tỷ lệ chuyển đổi.

3.2. Giảm chi phí hoạt động

Chi phí thuê mặt bằng, chi phí nhân viên bán hàng trực tiếp, chi phí quảng cáo truyền thống đều giảm. Hệ thống tự động hóa trong TMĐT giúp tiết kiệm nhân lực và tăng tốc độ giao dịch. Quản lý kho hàng số hóa cũng giảm lãng phí và chi phí lưu kho.

3.3. Cải thiện khả năng cạnh tranh

Doanh nghiệp sử dụng TMĐTlợi thế cạnh tranh trong phục vụ khách hàng. Khả năng phân tích dữ liệu, hiểu rõ xu hướng thị trường, và đưa ra quyết định kinh doanh nhanh chóng giúp doanh nghiệp vượt trội hơn.

IV. Giải pháp và khuyến nghị thúc đẩy TMĐT

Để thúc đẩy việc sử dụng thương mại điện tử và tăng hiệu quả hoạt động, doanh nghiệp cần áp dụng nhiều giải pháp toàn diện. Đa dạng hóa sản phẩm và kênh bán hàng giúp giảm rủi ro phụ thuộc vào một thị trường hay một kênh duy nhất. Tăng tốc số hóa và tự động hóa trong quy trình kinh doanh cải thiện hiệu suất. Xây dựng lòng tin khách hàng thông qua chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng tốt, và bảo mật thông tin cá nhân. Kiểm soát vay nợ và tìm kiếm hỗ trợ từ chính phủ giúp doanh nghiệp duy trì tính ổn định tài chính. Chính phủ nên tạo môi trường thúc đẩy TMĐT bằng cách cải thiện cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đào tạo kỹ năng số, và phát triển khung pháp lý phù hợp.

4.1. Chiến lược đa dạng hóa sản phẩm và kênh bán hàng

Doanh nghiệp nên phát triển nhiều dòng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Kết hợp bán hàng trên các platform TMĐT khác nhau (Shopee, Lazada, Tiki, website riêng) giảm rủi ro phụ thuộc vào một nền tảng. Sự đa dạng giúp doanh nghiệp duy trì ổn định khi gặp tác động từ chính sách thắt chặt.

4.2. Tăng tốc số hóa và tự động hóa quy trình

Đầu tư vào công nghệ như CRM, ERP, hệ thống quản lý kho giúp tối ưu hóa quy trình. Thanh toán điện tử, giao hàng tự động cải thiện hiệu suất. Nhân lực được giải phóng từ các công việc lặp lại có thể tập trung vào chiến lược phát triển doanh nghiệp.

4.3. Xây dựng lòng tin và hỗ trợ chính sách

Bảo vệ dữ liệu khách hàng, dịch vụ khách hàng chất lượng, chính sách đổi trả minh bạch xây dựng lòng tin. Chính phủ cần hỗ trợ DNVVN bằng tín dụng ưu đãi, đào tạo kỹ năng kỹ thuật số, và khung pháp lý rõ ràng cho thương mại điện tử.

28/12/2025
Xu hướng sử dụng thương mại điện tử của doanh nghiệp trong bối cảnh covid 19

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯdỞNG TỚI SỬ DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Thương mại điện tử 1. Khái niệm Thương mại điện tử (TMĐT) là hoạt động kinh doanh dựa trên cơ sở nền tảng công nghệ thông tin và mạng Internet diễn ra trên toàn cầu. Hình thức này được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, như “thương mại điện tử” (Electronic commerce), “thương mại trực tuyến” (online trade), “thương mại không giấy tờ” (paperless commerce) hoặc “kinh doanh điện tử” (e-business).

Tuy nhiên, “thương mại điện tử” vẫn là tên gọi phổ biến nhất (TS. Nguyệt và cộng sự, 2014). Sự xuất hiện của mạng Internet giai đoạn những năm 1997 đánh dấu mốc quan trọng cho sự ra đời của thương mại điện tử. Với nhiều ưu thế vượt trội, TMĐT ngày càng phổ biến rộng rãi và được các quốc gia quan tâm.

Tương lai, TMĐT được dự báo sẽ trở thành một trong những phương thức hoạt động chủ yếu trong thời kì nền kinh tế số. Kể từ khi hình thành, TMĐT đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học và nhà nghiên cứu. Do vậy, việc định nghĩa TMĐT là không giới hạn và vô cùng đa dạng. Anil Khural (2019) định nghĩa thương mại điện tử là việc sử dụng máy tính, Internet và phần mềm chung để gửi và nhận các thông số kỹ thuật và bản vẽ của sản phẩm; đơn đặt hàng và hóa đơn; và bất kỳ các loại dữ liệu khác cần được chuyển cho khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên hoặc công chúng.

Về cơ bản định nghĩa này cũng tương tự như Shahriari và cộng sự (2019), Clark (2015), Khan (2016) họ đều cho rằng thương mại điện tử được hiểu là việc kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ qua việc sử dụng mạng máy tính như là Internet. Cụ thể hơn, Shahriari và cộng sự (2019) chỉ ra thương mại điện tử dựa trên các công nghệ như thương mại di động, chuyển tiền điện tử, quản lý chuỗi cung ứng, tiếp thị, xử lý giao dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), hệ thống quản lý hàng tồn kho và thu thập dữ liệu các hệ thống một cách tự động. Bên cạnh đó, ngoài việc mua và bán qua TMĐT, nhiều người sử dụng chúng như một nguồn thông tin để so sánh giá cả hoặc xem các sản phẩm mới nhất được cung cấp trước khi mua hàng trực tuyến hoặc tại một cửa hàng truyền thống (Khan, 2016). 7 Allison (2019) cho rằng thương mại điện tử là một “hợp đồng điện tử” để trao đổi giá trị bằng cách sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.

Thương mại điện tử cũng được định nghĩa là hoạt động kinh doanh trực tuyến, bán hàng hóa và dịch vụ được phân phối ngoại tuyến, cũng như các sản phẩm có thể được "số hóa" và phân phối trực tuyến chẳng hạn như phần mềm. Thương mại điện tử bao gồm nhiều loại các hoạt động có thù lao như cửa hàng bán lẻ, dịch vụ ngân hàng trực tuyến, vận chuyển và đặt phòng khách sạn, tiền chuyển khoản, thanh toán trực tuyến, nội dung kỹ thuật số và phần còn lại (Pantelimon và cộng sự, 2020). Gangeshwer (2013) nhận thấy thương mại điện tử đã xuất hiện trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh, từ dịch vụ khách hàng tới thiết kế sản phẩm mới và nó tạo điều kiện cho các loại thông tin mới dựa trên quy trình kinh doanh bằng việc tiếp cận, tương tác với khách hàng như quảng cáo và tiếp thị trực tuyến, đặt hàng trực tuyến và dịch vụ khách hàng trực tuyến, v. Thêm vào đó, thương mại điện tử cung cấp các kênh mới để tiếp thị hàng hóa hữu hình trên toàn cầu và tạo ra các cơ hội để hình thành các doanh nghiệp mới, cung cấp thông tin và các sản phẩm vô hình dựa trên nguồn tri thức khác (Gunasekarana và cộng sự, 2002) Nhóm tác giả Nanehkaran và cộng sự (2013) cho rằng: “Thương mại điện tử là một khái niệm và quy trình, chúng có tác động một cách mạnh mẽ giúp thay đổi cuộc sống hiện tại của con người.

Thương mại điện tử là một trong những tiêu chí chính của cuộc cách mạng công nghệ thông tin và giao tiếp trong lĩnh vực kinh tế”. Thương mại điện tử (e-commerce) được định nghĩa theo nghĩa hẹp là hành vi giao dịch bằng cách sử dụng Internet như một kênh phân phối trong các hoạt động tiếp thị, bán hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng. Một định nghĩa theo nghĩa rộng được trình bày bởi Malcolm, người giải thích rằng thương mại là việc trao đổi thông tin về hàng hóa/dịch vụ thanh toán điện tử và bao gồm việc tạo và duy trì các mối quan hệ dựa trên web. Đề cập ở giải thích trên, Fruhling và Digman (2010) cho rằng thương mại điện tử không giới hạn ở Internet, mạng nội bộ, mạng ngoại vi, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), v.

nhưng toàn bộ quy trình giao dịch trực tuyến, chẳng hạn như xử lý các giao dịch bằng thanh toán điện tử, phối hợp với các đối tác doanh nghiệp (quản lý hàng tồn kho), khách hàng tự phục vụ (chẳng hạn như đơn đặt hàng).S Thái Nữ Hạ Uyên (2019) nhận định thương mại điện tử là hoạt động tập trung vào việc mua bán và trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thông tin qua mạng, các phương tiện điện tử và internet. Theo nghĩa rộng hơn, thương mại điện tử là việc sử dụng các phương tiện điện tử để triển khai thương mại. Các quy trình cơ bản của một giao dịch thương mại gồm tìm kiếm (mua gì, ở đâu.), đánh giá (có hợp với mình không, giá cả và điều kiện ra sao.), giao hàng, thanh toán và xác nhận. Các quy trình khác của một giao dịch thương mại gồm diễn tả (mô tả hàng hóa, dịch vụ, các điều khoản của hợp đồng), hợp thức hóa (thỏa thuận là hợp pháp), nâng cao uy tín và giải quyết tranh chấp.

Tất nhiên, có những quy trình không thể tiến hành trên mạng như việc giao hàng hóa ở dạng vật thể (máy móc, thực phẩm.), song quá trình của giao dịch nếu có thể thực hiện trên mạng thì đều có thể tiến hành bằng phương tiện điện tử. Tóm lại, thương mại điện tử là việc mua hoặc bán hàng/dịch vụ giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng, chính phủ và các tổ chức nhà nước hoặc tư nhân được tính hàng thông qua các mạng kết nối qua trung gian máy tính. Hàng hóa hoặc dịch vụ được đặt mua qua mạng nhưng việc thanh toán và giao hàng hóa có thể được thực hiện theo phương pháp truyền thống. Trong số tất cả các định nghĩa khác nhau về “thương mại điện tử” (Wirtz 2001, 33; OECD 2001), định nghĩa của OECD có lẽ là phổ biến nhất vì nó đã được tất cả các thành viên thống nhất và đang được sử dụng làm cơ sở thống kê, chỉ số.

OECD chỉ ra cả khái niệm hẹp và rộng về thương mại điện tử:  Khái niệm theo nghĩa hẹp: Giao dịch trên Internet là việc mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ và các tổ chức nhà nước hay tư nhân khác, được thực hiện qua Internet. Hàng hóa và dịch vụ được xác định qua Internet nhưng việc thanh toán và phân phối cuối cùng của dịch vụ có thể được thực hiện trực tuyến hoặc ngoại tuyến.  Khái niệm theo nghĩa rộng: Giao dịch điện tử là việc mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ và các tổ chức nhà nước hay tư nhân khác được thực hiện qua mạng trung gian máy tính. Hàng hóa và dịch vụ được đặt hàng qua các công trình mạng đó, nhưng việc thanh toán và phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ có thể được thực hiện trực tuyến hoặc ngoại tuyến.

9 Với sự đa dạng về việc định nghĩa TMĐT, chúng ta thấy rằng có nhiều điểm chung giữa các nhà nghiên cứu và cũng có những nét riêng biệt khi đưa ra định nghĩa. Nhìn chung, các định nghĩa mang tính kế thừa và bổ sung cho nhau. Định nghĩa được đưa ra bởi OECD được nghiên cứu toàn diện và đầy đủ hơn so với các nghiên cứu khác. Do đó, để có một cái nhìn ngắn gọn và tổng quan hơn, tác giả dựa trên kết quả mà OECD đưa ra để nghiên cứu và tổng hợp về định nghĩa thương mại điện tử như sau:  TMĐT được hiểu theo nghĩa hẹp là giao dịch tài chính về mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và mạng Internet (gọi tắt là kinh doanh online).

 TMĐT hiểu theo nghĩa rộng: TMĐT là việc doanh nghiệp thực hiện toàn bộ chu trình kinh doanh bao gồm: Bán hàng, phân phối, giao hàng, thanh toán, marketing dựa trên cơ sở là mạng viễn thông. Nói cách khác, TMĐT là việc tiến hành các hoạt động thương mại bằng việc sử dụng các phương tiện điện tử và Internet, xử lí thông tin số hóa. Thương mại điện tử được sử dụng ở bất kì hình thức kinh doanh nào. Các loại hình thương mại điện tử Cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng, thương mại điện tử được chia ra thành nhiều hình thức khác nhau.

Phổ biến nhất trong số đó là:  Doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) – Hình thức này dựa trên mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau. Bất kì hoạt động kinh doanh của các công ty sản xuất và công ty cung ứng đều liên hệ chặt chẽ với nhau vì có thể sản phẩm của công ty này sẽ là nguyên liệu của công ty khác và ngược lại. Lĩnh vực hoạt động tập trung vào việc thu được lợi ích (lợi nhuận) từ việc cung ứng dịch vụ hoặc bán hàng. Trong đó "đối tượng" là dịch vụ hoặc hàng hóa, và "Chủ thể" là các tổ chức tương tác trên thị trường tương ứng.

Tại đây các tổ chức và (hoặc) các doanh nhân đóng vai trò là "người bán" và "người mua" dịch vụ hoặc hàng hóa;  Doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C) - thuật ngữ chỉ quan hệ thương mại giữa các chủ thể là doanh nghiệp và người tiêu dùng cuối. Hình thưc này cũng là một dạng thương mại điện tử với mục tiêu là bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng 10  Người tiêu dùng đến người tiêu dùng (C2C) – Hình thức thương mại điện tử của người tiêu dùng cuối cùng với người tiêu dùng cuối cùng, trong đó người mua và người bán không phải là doanh nhân theo nghĩa pháp lý. Thông thường hình thức này sẽ có sự hỗ trợ từ bên thứ ba có liên quan đến các mối quan hệ thương mại.  Người tiêu dùng với doanh ngiệp (C2B) - cá nhân có thể tìm kiếm doanh nghiệp để bán hàng (hàng hóa, phần mềm) cho doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ