Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005. Chương 2 : ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013. Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, con ngƣời, kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn và công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện trƣớc năm 2001 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, con người, văn hóa và kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn * Điều kiện tự nhiên Nằm ở phía tây của tỉnh Bắc Kạn, Chợ Đồn có vị thế chiến lược hết sức quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Huyện có diện tích tự nhiên 91.293 ha chiếm 18,75% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn.
Huyện Chợ Đồn có một thị trấn (Bằng Lũng) và 21 xã. Có ranh giới tiếp giáp như sau: - Phía Bắc giáp huyện Ba Bể. - Phía Nam giáp huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên. - Phía Đông giáp huyện Bạch Thông, huyện Chợ Mới.
- Phía Tây giáp huyện Chiêm Hoá, Yên Sơn, Na Hang tỉnh Tuyên Quang. Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Bằng Lũng cách thị xã Bắc Kạn khoảng 46km theo tỉnh lộ 257. Huyện Chợ Đồn có hệ thống giao thông khá đầy đủ với đường tỉnh lộ 254, 254B, 255, 257… các tuyến liên xã tương đối hoàn thiện tạo thuận lợi cho huyện trong giao lưu thương mại, phát triển kinh tế xã hội, du lịch. Huyện Chợ Đồn là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Bắc Kạn, có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây với các dạng địa hình phổ biến: Địa hình núi đá vôi, Địa hình núi đất, Địa hình thung lũng.
Ngoài ra 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có hệ thống sông suối khá dày đặc nhưng đa số là các nhánh thượng nguồn sông Cầu, sông Năng, sông Phó Đáy, sông Bình Trung với đặc điểm chung là đầu nguồn, lòng sông ngắn, dốc, thuỷ chế thất thường. Giao thông đường sông ít phát triển do sông suối dốc, lắm thác ghềnh.10-11] Khí hậu huyện Chợ Đồn chịu ảnh hưởng chung của khí hậu Miền Bắc Việt Nam và mang tính chất đặc thù của khí hậu lục địa miền núi cao thể hiện rõ bốn mùa trong năm. mùa đông (từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau) giá lạnh, nhiệt độ không khí thấp, khô hanh, có sương muối; mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) nóng ẩm, mưa nhiều. * Con người và văn hóa Trải qua các thời kì lịch sử, Chợ Đồn hiện nay là nơi sinh sống của các tộc người Tày, Dao, Kinh, Mông, Nùng, Hoa….
Trong cộng đồng dân cư, dân tộc Tày là tộc người có nguồn gốc từ Tày cổ, là chủ nhân có mặt sớm và lâu đời nhất ơ huyện Chợ Đồn. Đồng bào Tày hiện nay có số dân đông nhất huyện, sống tập trung thành thôn bản.16] Dân tộc Dao đứng thứ hai dân số của huyện. Người Dao có mặt tương đối sớm ở Chợ Đồn, cách đây khoảng hơn 200 năm. Trước đây đồng bào du canh du cư, thực hiện cuộc vận động định canh định cư của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành trong huyện, đồng bào Dao đã từng bước ổn định cuộc sống.
Dân tộc Kinh có dân số đông thứ ba ở huyện. Người Kinh có mặt ở Chợ Đồn chủ yếu là trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất và thứ hai của Pháp. Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều cán bộ, công nhân theo cơ quan, xưởng máy, kho tàng của Trung Ương chuyển lên Chợ Đồn, ngoài ra còn có một số đồng bào tản cư từ miền xuôi lên.17] Người Mông do di cư tự nhiên từ nơi khác đến cách đây không lâu, có số dân đứng thứ tư trong dân số của huyện, họ sống rải rác trong hầu hết các xã. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Người Nùng có dân số đứng thứ năm của huyện, phần lớn có mặt cách đây hơn hai thế kỷ, một bộ phận nhỏ di cư đến vào những năm cuối thế kỷ XX.18] Dân tộc Hoa có số dân ít nhất, ngoài ra còn có một số ít người mang tộc danh Sán Chí.
Các dân tộc trong huyện luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau về mọi mặt. Đồng bào có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, xây dựng đời sống, luôn vươn lên để tự hoàn thiện mình và đã tạo nên những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc. Các dân tộc đều có những sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc, được thể hiện trong các dịp Tết, lễ hội, đám cưới, ma chay, chợ phiên… Người Dao có hát páo dung, người Mông có múa khèn, người Nùng hát sli, người Tày hát ví (phuối pác), hát lượn. Hát lượn của người Tày được các nhà nghiên cứu văn hóa đánh giá là “viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian”.
Đồng bào Tày - Nùng và các dân tộc ít người khác sinh sống ở Chợ Đồn là những dân tộc ở thời kì cổ đại không có chữ viết riêng của dân tộc mình, nên không có văn học thành văn thời cổ đại. Cách đây vài chục năm, một số người biết chữ Nôm Tày (có từ thế kỷ XV) thường đọc các truỵên, thơ bằng chữ Nôm Tày nay đã thành cổ văn ít người đọc được. Năm 1960, được sự giúp đỡ cuả Nhà nước, đồng bào Tày - Nùng có chữ viết của mình trên cơ sở chữ Quốc ngữ. Sự kết hợp giữa chữ Quốc ngữ và chữ Tày Nùng đã góp phần nâng cao sự hiểu biết và sinh hoạt văn hóa trong nhân dân.
Về thơ ca, trước đây một số người Tày biết hát Loàn (như hát lượn) trong lễ hội Lồng Tổng (xuống đồng). Ngày nay trong đồng bào Tày – Nùng còn lưu truyền khá phổ biến các bài ca cúng bái của: Pụt, Tào, Then dùng trong các lễ kỳ yên (lễ cầu cho sự bình an), trong ma chay có các thể loại thơ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ca nghi lễ như: mại xe, văn tế, văn than. Trong nhân dân có các thể loại thơ đám cưới (thơ lẩu) với các vần văn hoa ý nhị, thơ ca sinh hoạt có sli, lượn phong slư, câu đố, hát đồng dao, ru em… [37, tr.19-21] Những giá trị văn hóa được sản sinh trong quá trình lao động, xây dựng cuộc sống của các đồng bào dân tộc đã góp phần làm phong phú nền văn hóa dân gian Việt Nam. Đó còn là một trong những nhân tố làm nảy sinh truyền thống đoàn kết, đấu tranh, dựng nước và giữ nước của đồng bào trong tiến trình phát triển của lịch sử.
* Điều kiện kinh tế - xã hội Chợ Đồn là một trong những huyện giàu tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Bắc Kạn, ngoài kẽm, quặng, còn có chì, vàng sa khoáng… có giá trị to lớn về mặt kinh tế. Nền kinh tế Chợ Đồn khá phong phú đa dạng. Toàn huyện có diện tích tự nhiên là 91.293 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệplà 4.417 ha, riêng trồng lúa nước là 2. Kinh tế công nghiệp có khai thác quặng kẽm và một số nghề thủ công truyền thống.14] Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, cơ sở hạ tầng đang được đầu tư, mở rộng xây dựng, cơ cấu kinh tế thay đổi, hình thành nhiều cơ sở sản xuất, một số sản phẩm tham gia giao lưu kinh tế trong và ngoài tỉnh, hoạt động dịch vụ cũng có bước phát triển đáng kể.
Mặc dù vậy, tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế, lực lượng sản xuất trong xã hội huyện chủ yếu là nông dân. Là huyện miền núi, rừng chiếm phần lớn diện tích tự nhiên, xen kẽ rừng là các thung lũng lòng chảo, chạy dọc theo các con sông, suối, nhân dân đã khai phá, cải tạo thành ruộng bậc thang trồng lúa nước. Nhiều xã có cánh đồng rộng lớn như Đông Viên, Phương Viên, Bình Trung, Đồng Lạc, Nam Cường trở thành những vựa lúa của huyện. Các soi, bãi được đồng bào khai 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thác để trồng ngô và các loại hoa màu.
Có đồi núi, soi, bãi và nguồn lương thực khá dồi dào đã tạo điều kiện cho sự phát triển các đàn gia súc, gia cầm. Có thể nói điều kiện tự nhiên đã tạo cho Chợ Đồn có nền kinh tế tự cung tự cấp cao, có tác dụng đảm bảo đời sống tại chỗ cho đồng bào nơi đây. Tuy nhiên với nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, Chợ Đồn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là sự chênh lệch trong mức sống của các bộ phận dân cư còn rất lớn, tỉ lệ họ đói, nghèo còn rất cao.2 Công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện Chợ Đồn trước năm 2001 Ở Việt Nam, xoá đói giảm nghèo được coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để giải quyết vấn đề đói nghèo, một trong những vấn đề cơ bản là phải đưa ra được những chính sách để thực hiện có hiệu quả.
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: chính sách xóa đói giảm nghèo phải bao trùm tất cả mọi mặt của cuộc sống con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, chính trị, đạo đức… Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) đã khẳng định: “Thực hiện tốt chương trình giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Là một huyện nghèo trong một tỉnh miền núi còn rất nhiều khó khăn, Chợ Đồn nhận thức rõ thực trạng đói nghèo của huyện, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI (nhiệm kỳ 1995-2000) đã xác định xóa đói giảm nghèo là một nhiệm vụ cấp bách của huyện. Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 1996-2000, và trong quá trình thực hiện đã triển khai lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trong địa bàn huyện.141-142] Ngay từ khi tái lập tỉnh Bắc Kạn (1997), dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, huyện ủy Chợ Đồn đã đặt mức phấn đấu đến năm 2000 giảm tỷ lệ hộ đói 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghèo từ 10-15% , bằng mức phấn đấu của tỉnh. Năm 1997 tỷ lệ hộ đói nghèo toàn huyện có 46,3%, đến năm 2000 giảm còn 37,6%.