Chương 1 MỘT • SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN • VỀ THẨM QUYỀN XÉT xử sơ THẨM CỦA TOÀ ÁN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về thấm quyền của Toà án và quy định trình tự, thủ tục tố tụng trong hệ thống pháp luật 1. Khái quát về thẩm quyền của Toà án trong hệ thống pháp luật Thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật [47, tr. về mặt pháp lý, thẩm quyền là một quyền năng thi hành trao cho một cơ quan được thiết lập chính thức bởi pháp luật hay một lãnh đạo chính trị để giải quyết và đưa ra những tuyên bố về những vấn đề pháp lý và để đảm bảo công lý trong phạm vi lãnh thổ cụ thể.
Thẩm quyền là giới hạn nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể nhất định (cá nhân, tổ chức) và được quyết định khi thực hiện các hoạt động thuộc thẩm quyền. Thẩm quyền gắn liền với bộ máy nhà nước và các cá nhân cỏ thẩm quyền khi thực hiện các hoạt động trong phạm vi, quyền hạn. Thẩm quyền của Tòa án được quy định trong Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Toà án Nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, BLTTDS 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và các văn bản pháp luật khác. Theo quy định của những văn bản pháp luật nêu trên thì Toà án là cơ quan xét xử duy nhất của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), chức năng xét xử của Toà án là chức năng cơ bản và quan trọng nhất, nỏ bao trùm và xuyên suốt quá trình hoạt động của Toà án.
Điều 120 Hiến pháp 2013 “Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do Luật định”; Khoản 2 Điều 2 Luật Tố chức Toà án Nhân dân 2014 quy định Tòa án nhân danh nước CHXHCNVN xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia 7 đình, KDTM, lao động, hành chính và giải quyêt các việc khác theo quy định của pháp luật. Qua đó, thẩm quyền của Tòa án trong hệ thống pháp luật được hiểu với những cấp độ và nội dung khác nhau. Cụ thể: Thẩm quyền của Tòa án là phạm vi quyền hạn của Tòa án trong việc thực hiện pháp luật mà trọng tâm là công tác xét xử các loại vụ án theo quy định cùa pháp luật. Theo đó tùy thuộc vào quyền hạn do luật định, Tòa án các cấp, các Tòa án khác nhau trong hệ thống Tòa án, có phạm vi quyền hạn khác nhau trong việc xét xử các loại vụ án.
Giới hạn thẩm quyền căn cứ vào nhu cầu điều chỉnh pháp luật từ thực tiễn khách quan, khả năng điều kiện của các Tòa án trong việc thực thi nhiệm vụ cũng như hiệu quả của hoạt động đó. Bên cạnh đó, thẩm quyền của Tòa án còn là sự phân định quyền hạn giữa Tòa án Nhãn dãn và các cơ quan chức năng khác trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Theo luật định mồi hệ thống cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ riêng thực hiện các công việc do nhà nước giao phó. Sự phân công này nhằm đảm bảo tính chuyên môn, chuyên nghiệp hóa; phân định lĩnh vực hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Tòa án Nhân dân với chức năng là cơ quan xét xử, có trách nhiệm giải quyết các xung đột trong đời sống xã hội xâm phạm đến lợi ích nhà nước, công dân được quy định trong pháp luật. Tòa án không thực hiện chức năng điều hành quản lý nhà nước như các cơ quan hành chính hoặc chuyên môn khác thuộc hệ thống cơ quan nhà nước. Từ những phân tích trên, theo tác giả thẩm quyền của Tòa án là phạm vi giới hạn hoạt động của Tòa án và quyền năng pháp lý của Tòa án có mối liên quan chặt chẽ với nhau bao gồm thẩm quyền xét xử, phạm vi - giới hạn xét xử và quyền hạn quyết định của Tòa án. Luận văn này tập trung vào xem xét về thực hành quyền xét xử sơ thẩm của tòa án trên một địa phương là tỉnh Đồng Tháp.
Khái quát về những quy định trình tự, thủ tục tấ tụng trong hệ thong pháp luật - Trình tự, thủ tục xét xử theo BLTTDS 2015 Được quy định trong Phần thứ hai của BLTTDS 2015: Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm (Từ chương 12 đến chương 14 BLTTDS 2015). Gồm có: + Khởi kiện và thụ lý vụ án quy định từ Điều 186 đến Điều 202 BLTTDS 2015 Đổi với khởi kiện vụ án: Khởi kiện vụ án kinh tế là yêu cầu Toà án giải quyết các tranh chấp trong KDTM. Đối với thụ lý vụ án: Thụ lý vụ án kinh tế là một thủ tục pháp lý khẳng định sự chấp nhận của Tòa án đối với việc giải quyết vụ án. Sau khi nghiên cứu đơn khởi kiện và các tài liệu có liên quan Toà án sẽ tiến hành thụ lý vụ án nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình.
Để tiến hành thụ lý vụ án, Toà án sẽ dự định số tiền tạm ứng án phí và thông báo cho người khởi kiện yêu cầu nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi thụ lý vụ án Toà án phân công một Thấm phán giải quyết vụ án, đồng thời thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, đơn vị có liên quan và cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Khi nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến cùa mình, bị đơn có quyền phản tố trong một số trường hợp: Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn có sự liên quan với nhau. + Thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử quy định từ Điều 203 đến Điều 221 BLTTDS 2015 Hòa giải chuẩn bị xét xử là khoảng thời gian chuẩn bị xét xử được tính từ ngày Toà án thụ lý vụ án đến ngày Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét 9 xử.
Đây là khoảng thời gian cân thiêt đê Toà án tiên hành lập hô sơ, xác minh thu thập chứng cứ, hoà giải giữa các bên tranh chấp và xem xét để đưa vụ án ra xét xử. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tuỳ từng trường hợp Tòa án có quyết định sau: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Đình chỉ giải quyết vụ án.
Đưa vụ án ra xét xử. + Phiên tòa sơ thẩm: Quy định chung về phiên tòa sơ thẩm quy định từ Điều 222 đến Điều 238 BLTTDS 2015. Thành phần hội đồng xét xử phiên toà sơ thấm: Hội đồng xét xử gồm có 1 Thẩm phán, 2 Hội thẩm nhân dân, trường họp đặc biệt thì có 2 Thẩm phán, 3 Hội thẩm nhân dân. Sự có mặt của đương sự tại phiên toà.
Đương sự phải có mặt tại phiên toà khi Toà án xét xử vụ án. Tuy nhiên, trên thực tế vì một số nguyên nhân khách quan nên họ không thể có mặt tại phiên toà. Trường hợp vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì Toà án phải hoãn phiên toà để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Khi ấy đương sự phải có đơn đề nghị toà xét xử vắng mặt, hoặc đã có người đại diện họp pháp tại phiên toà.
Tuy nhiên, có trường hợp đương sự cố tình tránh mặt để trốn tránh nghĩa vụ, nên sự vắng mặt lần 2 phải được xem xét cụ thể. Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mật thì bị coi là từ bỏ vụ kiện, Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, nguyên đơn có quyền khởi kiện lại nếu còn thời hiệu khởi kiện. Neu bị đơn đã được triệu tập họp lệ đen lần thứ 2 mà vẫn vang mặt thì toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
10 Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đên lân thứ 2 mà vẫn vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ. Sự có mặt của Kiểm sát viên. Kiếm sát viên chỉ có bắt buộc phải tham gia phiên toà đối với những vụ án do Toà án thu thập chứng cứ, mà đưcmg sự có khiếu nại. + Thủ tục bắt đầu phiên tòa quy định từ Điều 239 đến Điều 246 BLTTDS 2015.
Xét hỏi tại phiên toà. + Tranh tụng tại phiên tòa quy định từ Điều 247 đến Điều 263 BLTTDS 2015. Tranh luận tại phiên toà. + Nghị án và tuyên án quy định từ Điều 264 đến Điều 269 BLTTDS 2015.
Ra quyết định hoặc bản án. Tranh chấp kinh doanh, thương mại và thẩm quyền xét xử sơ thẩm ciía Tòa án trong việc giăi quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại 1. Tranh chấp kinh doanh, thương mại 1. Khải niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại Tranh chấp được hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng (tranh cãi); sự mâu thuẫn về các quyền yêu cầu hay quyền, sự đòi hỏi về quyền yêu cầu hay đòi hỏi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược cùa bên kia [8, tr.
9], TCKDTM là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện cùng với sự ra đời của BLTTDS năm 2004 thay thế cho thuật ngữ tranh chấp kinh tế, “ một khái niệm quen thuộc của cơ chế kế hoạch hóa đã ăn sâu vào tiềm thức và tư duy pháp lý người Việt Nam” [44, tr. 427], Tranh chấp kinh tế theo tư duy cũ quy định tại Điều 12 cùa Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án Kinh tế năm 1994, bao gồm: - Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh. 11 -Tranh châp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty. - Các tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
- Các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật. Với quy định này, khái niệm tranh chấp kinh tế vẫn không bao quát hết các tranh chấp phát sinh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, ví dụ như tranh chấp về hợp đồng có mục đích kinh doanh giữa hai doanh nghiệp tư nhân với nhau không được xem là tranh chấp kinh tế mà xem là tranh chấp dân sự. Điều này dẫn đến không có sự phân biệt rõ ràng giữa tranh chấp kinh tế và tranh chấp dân sự.