Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ 1. Khái niệm xét xử sơ thẩm của các Tòa án quân sự Xét xử là chức năng thuộc về Tòa án, là một giai đoạn tố tụng quan trọng được tiến hành dưới hình thức phiên tòa nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết theo một trình tự luật định những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án. Theo từ điển Luật học: "Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc" [54, tr.
Hoạt động xét xử gắn liền với quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước. Thông qua hoạt động xét xử, Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước ban hành quyết định để thực thi trên thực tế các quyền và nghĩa vụ chủ thể quan hệ pháp luật hay nói cách khác đó là thực thi quyền tư pháp. Quyền tư pháp là quyền được thực hiện thông qua hoạt động bảo vệ pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật của cơ quan tư pháp. Hiến pháp 2013 quy định: "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" [25, tr.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải trải qua các giai đoạn như: điều tra, truy tố và xét xử. Giai đoạn xét xử là một khâu đặc biệt quan trọng là giai đoạn trọng tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự. Các giai đoạn tố tụng trước (điều tra, truy tố), các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ điều tra thu thập chứng cứ làm cơ sở cho quá trình giải quyết vụ án chưa thể quyết định 14 z người đó có tội hay không có tội. Để xác định một người có tội hay không có tội phải thông qua một phiên tòa, tại đó mọi chứng cứ tài liệu của vụ án do cơ quan điều tra, truy tố thu thập trong quá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau được tranh luận từ đó tạo điều kiện cho Tòa án ra bản án đúng pháp luật.
Có thể nói xét xử sơ thẩm được xác định như một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự là đỉnh cao của quyền tư pháp, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất. Theo Từ điển Luật học: "Xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền" [54, tr. Theo Giáo trình Luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội: "Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật" [47, tr. Theo Giáo trình luật tố tụng hình sự của Khoa Luật - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội: Xét xử sơ thẩm được hiểu là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể vụ án hình sự trên cơ sở bản cáo trạng của Viện kiểm sát, xem xét đánh giá chứng cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm làm cơ sở để ra các phán quyết công minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết định của mình [6, tr.TSKH Lê Cảm: Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn thứ tư và cuối cùng, trung tâm và: Quan trọng nhất của hoạt động tố tụng hình sự, mà trong đó cấp Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố 15 z tụng hình sự tiến hành: 1) áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử, 2) Đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên (buộc tội và bào chữa) phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo (hoặc xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm - nếu bản án hay quyết định sơ thẩm đã được tuyên và chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị hoặc kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm - nếu bản án hay quyết định đó bị kháng nghị) và cuối cùng, tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục [2].
Tòa án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thuộc hệ thống TAND được tổ chức trong quân đội. Bằng hoạt động xét xử của mình, TAQS cấp sơ thẩm có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của quân đội; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng và của các công dân khác góp phần giáo dục quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng trung thành với tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, điều lệnh của quân đội, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác. Hoạt động xét xử của TAQS tuân thủ những nguyên tắc và trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS, đó là để tuyên bố một người có tội và 16 z phải chịu hình phạt nhất thiết phải thông qua việc xét xử tại phiên tòa của Hội đồng xét xử. Một người chỉ bị coi là có tội khi người đó bị tòa án xét xử và kết án bằng bản án theo đúng quy định của pháp luật.
Mặt khác, hoạt động xét xử sơ thẩm của TAQS cũng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như: Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; Nguyên tắc xét xử tập thể quyết định theo đa số; Nguyên tắc xét xử công khai; Đảm bảo nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa. Thông qua hoạt động xét xử, TAQS mới ban hành bản án, quyết định tuyên bố một người có tội hoặc không có tội, từ đó áp dụng hình phạt hay khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ thể nào đó. Đồng thời, cũng thông qua hoạt động xét xử mà bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quân đội, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm và đặc biệt là qua các phiên tòa công khai góp phần giáo dục công dân chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống, nâng cao ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng như các vi phạm pháp luật khác.
Như vậy, xét xử sơ thẩm của các TAQS là hoạt động của Hội đồng xét xử sơ thẩm của TAQS cấp Quân khu, TAQS cấp khu vực nhân danh Nhà nước, căn cứ vào pháp luật, tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự để đưa ra phán quyết (bằng một bản án hình sự) giải quyết một vụ án cụ thể ở cấp sơ thẩm. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp xét xử sơ thẩm đều là xét xử lần đầu. Trường hợp Tòa án có thẩm quyền xem xét ra quyết định hủy bản án để điều tra lại hoặc xét xử sơ thẩm lại theo quy định tại Điều 250, 287 và Điều 300 của BLTTHS năm 2003 thì việc xét xử sơ thẩm lại không phải là xét xử lần đầu tiên. Từ những phân tích trên có thể nêu ra khái niệm xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAQS như sau: Xét xử sơ thẩm của các Tòa án quân sự là việc 17 z Tòa án quân sự xét xử lần đầu vụ án hình sự thuộc thẩm quyền và quyết định bị cáo có phạm tội hay không; nếu phạm tội gì theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự và quyết định áp dụng loại mức hình phạt nào đối với người phạm tội.
Đặc điểm xét xử sơ thẩm của các Tòa án quân sự Xét xử sơ thẩm của TAQS có những đặc điểm chung như xét xử sơ thẩm của TAND đồng thời còn có những đặc điểm riêng chi phối quá trình xét xử của TAQS. Những đặc điểm có tính đặc thù đó là: Thứ nhất, TAQS chỉ xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, TAQS không giải quyết vụ án dân sự độc lập hoặc giải quyết các vụ án kinh tế lao động và hôn nhân gia đình. Do vậy, khi xét xử sơ thẩm, các TAQS phải chú ý giải quyết triệt để các vấn đề dân sự vì việc tách phần dân sự để xét xử riêng rất phức tạp, không kịp thời, đảm bảo quyền lợi cho đương sự. Trong trường hợp đặc biệt không thể giải quyết được thì TAQS tách phần dân sự để xét xử riêng, đồng thời phải hướng dẫn cho đương sự khởi kiện vụ án dân sự trước TAND.
Theo qui định của pháp luật, nguyên tắc hai cấp xét xử được thiết lập ở các nước cũng như ở Việt Nam, Điều 20 của BLTTHS 2003 quy định: Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này… [21]. Đây là đặc điểm riêng biệt của xét xử sơ thẩm. Thứ hai, chỉ xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của TAQS.