CHƯƠNG 1: KIẾN THỨC CƠ SỞ Đồ án đòi hỏi người học biết áp dụng các kiến thức đã học để giải quyết những bài toán trên thực tế. Chương này đồ án trình bày các kiến thức liên quan cũng như các phương pháp tiếp cận để giải quyết đề tài. Đối tượng nghiên cứu Người sử dụng: Người sử dụng hệ thống được xác định có hai nhóm chính gồm quản trị hệ thống và người dùng. Quản trị hệ thống có vai trò quản lý và phân quyền cho toàn bộ người sử dụng hệ thống; Người dùng gồm tất cả những người tham gia sử dụng hệ thống và có nhu cầu trao đổi thông tin với hệ thống.
Quan trọng nhất trong nhóm người dùng là Khách hàng. Tài liệu: Tài liệu bao gồm các tài liệu chuyên môn và các tài liệu liên quan được thống kê tóm tắt như sau: + Thương mại điện tử + Giáo trình UML + Giáo trình mạng máy tính + Giáo trình lập trình hướng đối tượng. + Giáo trình lập trình Web + Giáo trình lập trình cơ sở dữ liệu (SQL server) Công cụ lập trình: Microsof Visual Studio 2015, SQL Server Management Studio 2008, phần mềm xử lý ảnh, v. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Đây là hệ thống thuộc lĩnh vực thương mại điện tử, nhằm cung cấp môi trường để các tổ chức, công ty giới thiệu các mặt hàng đến tay người tiêu dùng bằng phương tiện trực tuyến.
Tuy nhiên, với phạm vi đề tài, đồ án chọn mặt hàng sách để làm đối tượng xây dựng hệ thống. 8 Luan van Hỗ trợ khách hàng: Tìm kiếm những thông tin về sản phẩm từ hệ thống và đặt mua các loại sách. Nếu khách hàng không có nhu cầu mua mà chỉ vào website để tìm hiểu, tham khảo mặt hàng, thì phải đặt ra những yêu cầu đối với nhà phát triển kinh doanh là phải làm thế nào để thu hút khách hàng, để họ mua sản phẩm của mình, đồng thời khách hàng có thể thực hiện giao dịch trực tuyến trên hệ thống bằng nhiều hình thức thanh toán. Thực hiện thao tác tìm kiếm nhanh, hiệu quả, giúp cho khách hàng tiết kiệm được thời gian, tiết kiệm được chi phí của các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, chức năng giỏ hàng, thống kê số lượng mặt hàng mà khách hàng đã chọn để thực hiện giao dịch mua bán. Khách hàng có thể thay đổi số lượng hàng, theo dõi đơn hàng, gửi ý kiến đóng góp và phản hồi thông tin cho người quản lý. Hỗ trợ người quản lý: Trong vấn đề quản lý khách hàng, lượng người truy cập, quản lý thông tin cũng như quản lý về nguồn tìm kiếm của khách hàng. Bán sách: Sau khi người dùng truy cập vài hệ thống họ có thể xem thông tin về các loại sách, thêm vào giỏ hàng những cuốn sách mà họ thấy ưng ý, phù hợp với yêu cầu cầu của họ.
Giỏ hàng: Khi người dùng hệ thống đã tìm được những cuốn sách phù hợp với nhu cầu của mình học có thể cho vào giỏ hàng. Giỏ hàng là nơi người dùng có thể xem lại các cuốn sách mà mình đã lựa chọn mà không phải mất công tìm kiếm lại. Đông thời ở đây họ có thể đặt mua sách, thêm, sửa, xóa sách trong giỏ hàng và biết được số tiền mà họ phải trả cho số sách đó. Tìm kiếm: Chức năng này giúp người dùng có thể tìm kiếm sách nhanh chóng khi mà họ đã định hướng mình cần loại sách nào… Đăng nhập, đăng kí: Hai chức năng này giúp người dùng có thể đặt mua được sách của hệ thống.
Quản trị: Cập nhật, sửa, xóa, thêm, bổ sung các thông tin về sách. Quản lý người dùng, quản lý việc bán sách, mua sách, giao hàng, liên hệ, tổng hợp ý kiến của khách hàng, v. Hệ thống phân loại sách Phân loại sách theo một tiêu chuẩn phân loại nào đó là một công việc hết sức quan trọng. Đây là công việc bắt buộc không chỉ đối với tất cả các thư viện mà còn đối với bất kỳ nhà sách nào muốn hội nhập cùng thế giới.
Sử dụng chuẩn phân loại càng phổ biến thì càng thu hút được khách hàng. Sau khi sách được phân loại theo chuẩn khách hàng (không kể quốc tịch) hoàn toàn có thể tìm được cuốn sách họ muốn mà không cần biết cụ thể tên sách, tác giả hay nhà xuất bản, v. Là những từ đặc biệt trong mỗi tài liệu có tính chất mô tả và đặc trưng cao cho nội dung của tài liệu đó hoặc là những danh từ riêng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong tài liệu. Khung phân loại Là tập hợp các ký hiệu được sắp xếp theo một trật tự nhất định.
Ký hiệu phân loại của mỗi tư liệu là tập hợp của các ký hiệu trong khung phân loại. Một số khung phân loại phổ biến 1. Phân khung loại DDC DDC (Deway Decimal Classification) là khung phân loại thập tiến của Mỹ, được dùng rộng rãi nhất trên thế giới. DDC dùng 10 số (từ 0 đến 9) kết hợp với nhau để tạo thành các ký hiệu phân loại tài liệu.
Đây là khung phân loại theo đẳng cấp có 10 lớp chính (còn gọi là lớp cơ bản) có ký hiệu bằng số Ả-rập với ba con số và hai con số 0 ở cuối được thể hiện như sau: 000: Tổng loại. 100: Triết học và các khoa học. 300: Các khoa học xã hội. 400: Ngôn ngữ học.
500: Các khoa học chính xác. 600: Các khoa học ứng dụng. 900: Địa ý, Lịch sử và các khoa học phụ trợ. Các lớp chính lại lần lượt được chia nhỏ ra tối đa 10 lớp con, đến lượt mình 10 Luan van mỗi lớp con lại được chia ra làm 10 lớp nhỏ tiếp theo ở các bậc chi tiết hơn.
Ví dụ: Các lớp ở bậc phân thứ hai của lớp 200: 200: Tôn giáo. 210: Tín ngưỡng tự nhiên. 220: Kinh thánh. 230 – 280: Thiên chúa giáo.
290: Các tôn giáo khác. Theo nguyên tắc trên thì ký hiệu chính có thể kéo dài từ trái sang phải, cứ sau 3 số lại có một dấu ". Nguyên tắc đẳng cấp trong khung DDC thể hiện ở các chi tiết tăng dần tính cụ thể bằng các ký hiệu. Ví dụ: 300: Các khoa học xã hội.
330: Kinh tế học. 331: Kinh tế lao động.1: Kinh tế lao động và thị trường.11: Sức lao động.118: Năng suất lao động. Các bảng phụ: Trong khung phân loại DDC hiện có 7 bảng phụ trợ (còn gọi là bảng ký hiệu). Các bảng này nhằm mục đích mở rộng các ký hiệu các lớp của bảng chính.
Các bảng phụ chỉ dùng để phối hợp với bảng chính mà không được phép sử dụng độc lập, để giúp cho việc dùng khung phân loại linh hoạt và có hiệu quả hơn. Bảng 1: Bảng các đề mục chuẩn. Bảng 2: Bảng các đề mục địa lý. Bảng 3: Bảng phụ văn học.
Bảng 4 và 6: Bảng phụ ngôn ngữ. Bảng 5: Bảng phụ dân tộc, chủng tộc. Bảng 7: Bảng phụ nhân vật. Ví dụ: Tên sách: Lịch sử điện ảnh Pháp có ký hiệu phân loại là: 791.
11 Luan van Giải thích: 700: Nghệ thuật. 790: Nghệ tiêu khiển và trình diễn 791: Biểu diễn sân khấu.4: Phim, phát thanh, truyền hình.43 09: Lịch sử điện ảnh.43 0944: Lịch sử điện ảnh Pháp (44: Pháp – trong bảng 2). Phân khung loại BBK BBK (Bibliotechno Bibliographiccheskaja Klassifikacija) là khung phân loại của Liên Xô (cũ), được sử dụng ở hầu hết các nước XHCN. Khung phân loại này có 28 lớp cơ bản thể hiện bằng 28 chữ cái Nga, chia làm 6 nhóm chính.
Vì khung phân loại BBK sử dụng chữ cái Nga đã gây trở ngại lớn cho những nơi muốn ứng dụng BBK nên sau này BBK đã được xuất bản dị bản với các ký hiệu các lớp cơ bản bằng số Ả-rập song song tồn tại với BBK có ký hiệu bằng chữ cái ở lớp cơ bản. Ở Việt Nam, lớp cơ bản của BBK cũng được Việt Nam hóa bằng chữ cái La-tinh tương ứng với bảng chữ cái Nga. Hệ thống ký hiệu BBK sử dụng hỗn hợp chữ và số. Lớp cơ bản của bảng chính dùng chữ in hoa.
Ví dụ: A: Chủ nghĩa Mác – Lênin. B: Các khoa học tự nhiên nói chung. C: Các khoa học toán lý. D: Các khoa học hóa học.
… Z: Tài liệu có nội dung tổng hợp. Bắt đầu từ cấp phân chia thứ 2 trở đi thì dùng chữ số Ả-rập và áp dụng rộng rãi nguyên tắc thập tiến như ở DDC. Trong cấu tạo ký hiệu thì cứ sau 3 số Ả-rập thì có một dấu “. Ví dụ: 12 Luan van Đ: Các khoa học về trái đất.82: Dự báo thời tiết dài hạn.
Các bảng phụ trợ: BBK có 5 bảng phụ trợ: Bảng mẫu chung. Bảng mẫu riêng. Bảng mẫu sắp xếp. Bảng mẫu địa lý.
Bảng mẫu các dân tộc. Các dấu hiệu dùng trong BBK: BBK sử dụng khá nhiều dấu hiệu đưa vào hệ thống ký hiệu hỗn hợp. Ngoài các chữ cái hoa và chữ cái thường, BBK còn dùng các dấu toán học như: Dấu cộng (+): dấu này dùng để kết hợp các ký hiệu phân loại trong cùng một tài liệu. Dấu gạch xiên (/): dấu này sử dụng để tạo ra ký hiệu phân số thể hiện cách chia nhỏ một khái niệm ra số lượng khái niệm con lớn hơn 10.
Dấu bằng (=): dấu này dùng cho ký hiệu mẫu dân tộc. Dấu ngoặc đơn (): dấu này dùng cho ký hiệu mẫu địa lý và dân tộc.): dấu ngăn cách 3 số Ả-rập trong ký hiệu chính, tính từ trái sang phải. Dấu hai chấm (:): dấu này dùng để thể hiện mối quan hệ giữa các vấn đề và các ngành khoa học liên quan. Ngoài ra BBK còn dùng dấu ngoặc kép (“”) để thể hiện khái niệm phân chia thời gian, mặc dù BBK không có bảng trợ ký hiệu thời gian.
Khung phân loại PTB Khung phân loại này được dùng trong các thư viện công cộng của Việt Nam. Đây là khung phân loại được các cán bộ chuyên môn của Thư viện Đại học Quốc gia biên soạn lại dựa trên cơ sở khung phân loại BBK. Khung phân loại này có 19 lớp cơ bản. Ví dụ: 0: Tổng loại.
Đồ án tốt nghiệp Xây dựng hệ thống quản lý bán sách trên mạng 1: Triết học, Tâm lý học, Logic học. 2: Chủ nghĩa vô thần, Tôn giáo. 13 Luan van 3K: Chủ nghĩa Mác – Lênin. 3: Xã hội chính trị.
Đ: Sách thiếu nhi. Trong các lớp cơ bản, ta có thể thấy khung phân loại đã thể hiện ký hiệu xen lẫn cả số Ả- rập và chữ cái, dùng cả một số và hai số cho lớp cơ bản.